Thứ Tư, 31 tháng 3, 2010

Tài liệu .NET framework 3.5: LINQ và WPF - ĐHBKHN


TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN GIẢNG DẠY
DÀNH CHO GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC-CĐ

Giới thiệu:
Nhóm tác giả xây dựng và biên sọan bộ tài liệu và giáo trình giảng dạy:


  • Cố vấn công nghệ và chuyên môn : Lê Thanh Hải. Công ty Microsoft và PGS Tiến Sĩ Hùynh Quyết Thắng, Trưởng khoa CNTT Đại học BK Hà nội
  • Các giảng viên tham gia biên sọan :
    • TS Vũ Tuyết Trinh
    • Ths Hòang Anh Việt
    • Ths Đõ Tuấn Anh
    • Kỹ Sư Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh.
  • Chúng tôi sẵn sàng cung cấp miễn phí cho các khoa CNTT để nghiên cứu phục vụ giảng dạy cho sinh viên
  • Vui lòng liên hệ : Mr Lê Thanh Hải, Microsoft việt Nam
Thông tin và mục tiêu của tài lịêu giảng dạy khóa học

Bộ giáo trình này được biên soạn dựa trên những tài liệu mới nhất về .NET framework 3.5 nhằm cung cấp cho sinh viên công nghệ thông tin những kiến thức cơ bản nhất về .NET framework. Nội dung bao gồm kiến trúc .NET framework, sự phát triển của .NET framework qua các phiên bản, kiến trúc phiên bản 3.5, các nội dung cơ bản trong phiên bản 3.5... Đặc biệt, giáo trình đi sâu vào Language Integrated Query (LINQ), Windows Presentation Foundation (WPF) là các công nghệ mới rất tiêu biểu của Microsoft .NET nhằm cung cấp cho sinh viên những kĩ năng cơ bản nhất để phát triển các ứng dụng trên nền .NET framework 3.5.
Những mục tiêu chính mà giáo trình cố gắng đạt được:
  1. Cung cấp cho sinh viên một cái nhìn tổng quan về kiến trúc .NET framework, nắm được sự phát triển qua từng phiên bản của .NET framework, so sánh các phiên bản.
  2. Giúp sinh viên nắm được một số nội dung cơ bản trong .NET framework 3.5, sự khác biệt của nó so với các phiên bản trước.
  3. Hướng dẫn cho sinh viên các kỹ thuật lập trình cơ bản với 2 công nghệ quan trọng là LINQ và WPF.
Vì được bố cục trong 45 tiết dạy nên giáo trình không thể đi sâu vào chi tiết từng nội dung trong .NET framework mà chỉ dừng ở mức giới thiệu các khái niệm cơ bản nhất. Đối với phiên bản 3.5, giáo trình xoáy sâu vào 2 nội dung cơ bản là LINQ và WPF là các công nghệ thường gặp nhất đối với người lập trình trên .NET framework 3.5.
Bộ giáo trình được biên soạn và tổng hợp bao gồm: slide bài giảng, bài exercise, bài thực hành lab và các Video tự học. Ở đây, toàn bộ giáo trình đều được trình bày bằng tiếng Anh, nhằm mục đích nâng cao khả năng tiếp thu và phát triển các kỹ năng học và nghiên cứu bằng tiếng Anh – các kỹ năng vô cùng quan trọng đối với người học công nghệ thông tin.
Giáo trình có thể dùng tham khảo cho các ngành Công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông.
Phương pháp giảng dạy

Khóa học này yêu cầu sinh viên phải được thực hành nhiều bằng các ví dụ, project thực tế để có khả năng làm thật thay vì chỉ nghe lý thuyết suông. Giáo viên nên tổ chức các buổi học lý thuyết và buổi học làm lab đan xen nhau, lý thuyết mà sinh viên mới học có thể được thể hiện ngay bằng các bài thực hành. Điều này giúp cho sinh viên nhớ và hiểu kỹ hơn những gì giáo viên truyền đạt, và cũng tăng sự hứng thú trong việc học.
Một ví dụ về việc tổ chức các buổi học đã được áp dụng:
Tổ chức tuần 3 tiết học lý thuyết và 1 buổi thực hành:
¦ Lý thuyết
- Số lượng tiết: 3 ( có thể thay đổi)
- Thời gian giảng slide: từ 2 đến 2.5 tiết tùy vào chương và điều kiện.
- Thời gian còn lại cho sinh viên nghe các Training Video và tiến hành thảo luận.
¦ Thực hành
- Sinh viên thực hành các bài lab của giáo trình.
- Giáo viên tìm một ví dụ, tốt nhất là một project thực tế để làm thông qua các bài lab, hướng dẫn từng bước để sinh viên hiểu được quá trình làm thực tế.
Kết thúc khóa học, giáo viên nên yêu cầu sinh viên thực hiện những project tổng thể bằng việc đưa ra danh sách các mẫu project để sinh viên lựa chọn, hoặc sinh viên tự đăng ký. Việc yêu cầu này có thể được thực hiện vào giữa học kỳ hoặc vào cuối kỳ.
Để rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên, giáo viên có thể yêu cầu lớp phân chia thành các nhóm sinh viên để làm các project. Tùy vào độ lớn của project mà quy định số lượng thành viên của một nhóm, số lượng có thể giao động từ 2 đến 4 sinh viên. Khi bắt đầu thực hiện và trong quá trình thực hiện project, giáo viên cần có mặt để tham gia cùng sinh viên, hướng dẫn để sinh viên đi đúng hướng và hiểu vấn đề một cách chính xác.

Download: (865MB - contact: thodx@hnue.edu.vn)


Password:
thodx@hnue.edu.vn

Đề cương môn học

Giáo trình được biên soạn để giảng dạy trong 15 tuần, với thời lượng 3 tiếng một tuần cho phần lý thuyết và một buổi thực hành Lab. Trong thời gian học lý thuyết, việc đan xen cho sinh viên nghe các bài Trainning Video có thể tốn khá nhiều thời gian. Do đó giáo viên nên cân đối việc chia thời gian và chọn lọc các bài Video để cho sinh viên nghe và thảo luận trên lớp, còn những phần khác có thể giao cho sinh viên về nhà tự nghe rồi trả lời câu hỏi của giáo viên để buổi sau lên lớp trao đổi.

Bài giảng : Chapter 1- .NET Overview

Thời gian: 1 buổi
Nội dung :
1.1 Introduction
1.2 Overview of the .Net flatform
1.3 Overview of the .Net Framework
Summary
Bài tập : Exercise 1
Bài giảng : Chapter 2: Common Language runtime

Thời gian: 1 buổi
Nội dung :
2.1 Introduction
2.2 CLR Executables
2.3 CLR in .Net framework 3.5
Summary
Bài tập : Exercise 2
Bài Lab : Lab 2
Bài giảng : Chapter 3: .NET framework 3.5

Thời gian: 1 buổi
Nội dung :
3.1 Previous Versions
3.2 .Net framework 3.5
Summary
Bài giảng : Chapter 4: Microsoft Language Integrated Query

Thời gian: 4 buổi
Nội dung :
4.1 Introduction LINQ
4.2 C# and VB.NET language enhancements
4.3 LINQ building blocks
4.4 Querying objects in memory
4.5 Querying relational data
4.6 Manipulating XML
4.7 Extending LINQ
4.8 A look to futureSummary
Bài tập : Exercise 4
Bài Lab : Lab 4
Video training
Bài giảng: Chapter 5: Windows Presentation Foundation

Thời gian: 4 buổi
Nội dung :
5.1 WPF Introduction
5.2 XAML
5.3 Programming WPF Applications
5.4 Building Your First WPF Application
5.5 Exploring the Layout Controls
5.6 Working with XAML Controls
5.7 Working with Graphics, Media and Animations
5.8 New in WPF 3.5
5.9 Future Directions of WPFSummary
Bài tập : Exercise 5
Bài Lab : Lab 5
Video training
Windows Communication Foundation
Bài giảng: Chapter 6: Windows Communication Foundation

Thời gian: 2 buổi
Nội dung :
6.1 Introduction
6.2 Programming Model
6.3 New in .NET framework 3.5
6.4 WCF Web Programming Model
Summary
Bài tập : Exercise 6
Bài Lab : Lab 6
Video training
Bài giảng: Chapter 7: ASP.NET AJAX

Thời gian: 2 buổi
Nội dung :
7.1 Introducing ASP.NET AJAX
7.2 Microsoft AJAX Library
7.3 Working with Web Services
7.4 ASP.NET AJAX Control Toolkit
7.5 Building Web Application Summary
Summary
Bài tập : Exercise 7
Bài Lab : Lab 7
Video training



Thank Mr. Lê Thanh Hải & Mr. Huỳnh Công Nghĩa

CD Training CCNA tiếng Việt v4.0 của NetPro




Thứ Ba, 30 tháng 3, 2010

Những điều thú vị về tên gọi các hãng công nghệ

(Dân trí) - Các sản phẩm như vi xử lý của Intel, máy điện thoại của Apple, Motorola, hay các dịch vụ của Google… đã quá quen thuộc nhưng xuất xứ tên gọi của các hãng này vẫn còn nhiều điều bí mật.
Apple: Vẫn còn nhiều tranh cãi quay thương hiệu và biểu tượng của hãng công nghệ hàng đầu này, nhưng giả thuyết được nhiều người tin tưởng nhất, lý do Steve Jobs, nhà sáng lập Apple chọn “quả táo” làm tên và biểu tượng cho thương hiệu của mình đơn giản bởi vì… ông rất thích ăn táo. Steve Jobs đã phải mất 3 tháng để quyết định tên thương hiệu của mình, và ông quyết định lấy tên Apple Computer Inc do những người bạn đồng sáng lập không nghĩ ra được cái tên nào hợp lý hơn. Ngoài ra, Steve Jobs cũng đã từng có một thời gian làm việc tại vườn táo.


Logo đầu tiên của Apple, với hình ảnh Newton và trái táo


Cisco: Là tên viết tắt của thành phố San Francisco, nơi sáng lập nên hãng công nghệ này. Ngoài ra, biểu tượng của CISCO cũng thể hiện hình ảnh cầu Cổng Vàng (Golden Gate) nổi tiếng ở San Francisco.

Compaq: Được tạo thành từ COM, đại diện cho máy vi tính (Computer) và PAQ, dùng để chỉ các vật nhỏ và nguyên vẹn.


Corel: Cái tên được bắt nguồn từ ý tưởng của nhà sáng lập, giáo sư Michael Cowplan, với ý nghĩa COwplan REsearch Laboratory (Phòng thí nghiệm nghiên cứu của Cowplan).

Google: Ý nghĩa của Google bắt nguồn từ lời tự hào của các nhà sáng lập về khả năng thông tin khổng lồ mà công cụ này có thể tìm kiếm được. Ban đầu, Google có tên là ‘Googol’, từ mang ý nghĩa biểu thị cho số 1 và 100 số 0 ở phía sau. Tuy nhiên, sau khi sáng lập, Sergey Brin và Larry Page giới thiệu dự án của họ đến các nhà đầu tự, và tấm séc đầu tiên do các nhà đầu tư gửi đến đã ghi sai tên thương hiệu của họ thành ‘Google’, và 2 người đã quyết định đổi tên và chọn Google là tên cho thương hiệu của mình.

Hotmail: Nhà sáng lập Jack Smith muốn xây dựng một sản phẩm để có thể truy cập email thông qua web ở mọi máy tính trên toàn thế giới. Khi Sabeer Bhatia mang đến một dự án kinh doanh về dịch vụ mail, Jack Smith đã thử tất cả các tên gọi có thể kết thúc bằng từ ‘mail’, và cuối cùng ông đã chọn tên Hotmail, bao gồm các ký tự html ở bên trong (HoTMaiL). html là ngôn ngữ lập trình dùng để xây dựng các website.

HP (Hewlett Packard): 2 nhà đồng sáng lập, Bill Hewlett và Dave Packard đã phải… tung đồng xu để quyết định nên chọn tên thương hiệu của mình là Hewlett-Packard hay Packard-Hewlett.


Intel: 2 nhà đồng sáng lập, Bob Noyce và Gordon Moore muốn đặt tên công ty của mình là “Moore Noyce”, nhưng tên này đã được đăng ký thương hiệu của một khách sạn khác. Do vậy, họ đã phải đổi tên thương hiệu của mình thành Intel, là sự kết hợp của INTegrated ELectronic.

Microsoft: Được tạo ra bởi Bill Gates, nhằm để chỉ rõ rằng sản phẩm của hãng dùng để phục vụ cho máy tính cá nhân (MICROcomputer SOFTware). Tên ban đầu của hãng là Micro-Soft, tuy nhiên, sau đó ký tự “-“ đã được xóa bỏ và trở thành Microsoft.

Motorola: Nhà sáng lập Paul Galvin đã nghĩ ra tên này khi công ty của ông nhận nhiệm vụ sản xuất radio cho oto.

Oracle: Larry Ellison và Bob Oats từng tham gia một dự án của CIA. Mật danh của dự án này được gọi là Oracle, với mục đích xây dựng một hệ thống có thể trả lời mọi câu hỏi. Dự án được xây dựng để sử dụng mã SQL mới của IBM phát triển. Tuy dự án sau đó đã bị hủy bỏ nhưng Larry và Bob vẫn quyết định kết thúc công việc của mình và mang nó đến với thế giới, họ giữ tên Oracle cho tên công ty do mình cùng sáng lập.

Sony: Có nguồn gốc từ một từ Latin, ‘Sonus’, có nghĩa là âm thanh, và ‘Sonny’ là một từ lóng của người Mỹ, dùng để ám chỉ những đứa trẻ lanh lợi, thông minh.


SUN: Được sáng lập bởi 4 sinh viên từ đại học Stanford, SUN là từ viết tắt của Stanford University Network.


Yahoo!: Vào tháng 1/1994, 2 sinh viên vừa tốt nghiệp đại học Stanford, Jerry Yang và David Filo xây dựng website mang tên “David and Jerry’s Guide to the World Wide Web”. Sau đó, vào tháng 4/1994, họ quyết định đổi tên trang web của mình thành Yahoo!, là từ viết tắt của ‘Yet Another Hierachical Officious Oracle’, để ám chỉ hệ thống tìm kiếm thông minh có phân cấp. Một lý do nữa để 2 nhà đồng sáng lập quyết định lấy tên này bởi vì Yahoo là một từ được sáng tác bởi nhà văn Jonathan Swift, tác giả của tác phẩm nổi tiếng “Gulliver Du Ký”, để ám chỉ người mạnh mẽ, thẳng thắn và hoang dã. 2 nhà đồng sáng lập đã quyết định lấy tên này để cho mọi người thấy rằng mình cũng là một “Yahoo”.
Phạm Thế Quang Huy

Yu-Gi-Oh Power Of Chaos Mike The Reunion

Yu-Gi-Oh Power of Chaos: Joey the Passion chắc chắn sẽ là một game mà các fan của Yugi không thể bỏ qua.
Có tới 350 lá bài trong phiên bản thứ 3 Joey the Pasion của loạt game Yu-gi-oh. Bạn có thể kết hợp với các lá bàn còn lại từ các phiên bản Yugi trước để nâng tổng số các lá bài lên 1114. Joey the Passion cho phép bạn kết hợp một loạt các quân bài giúp bạn có thể triệu hồi các quân bài mạnh nhất như B. Skull Dragon,hay Chimera The Flying Mythical Beas. Ngoài ra nếu bạn có thể chơi mạng Lan giữa 2 người hoặc bạn có thể chơi trực tuyến với các “vua bài” khác qua mạng Hamachi.
Đồ họa của game mang phong cách đường phố. Giọng nói của nhân vật Joey là từ seri phim. Joey the Passion chắc chắn sẽ là một game mà các fan của Yugi không thể bỏ qua.







Ảnh dưới đây đã được chỉnh sửa kích cỡ. Hãy click vào đây để xem toàn bộ ảnh. Ảnh gốc có kích thước 800x600.


-Cấu hình tối thiểu:

Windows XP/Me/2000/98SE
450 MHz Pentium II (or equivalent)
128 MB RAM
DirectX 8.1-compliant video card
DirectX 8.1-compliant sound card
DirectX 8.1 or higher (DirectX 9.0 included on disc)
CD-ROM drive
580 MB free hard-drive space
Keyboard and mouse

Link down:
http://www.mediafire.com/?sharekey=5...d79cb99c7ecf63

Bị một vài lỗi nhỏ

Thứ Sáu, 26 tháng 3, 2010

Gửi email từ localhost bằng Mercury Mail

Nguồn bài viết: http://sinhvienit.net/@forum/showthread.php?t=5206 Hi all,
Việc gửi mail từ localhost sẽ trở nên dễ dàng với bộ công cụ XAMPP.
http://www.apachefriends.org/en/xampp.html
Ở đây tôi trình bày việc cấu hình gửi email từ localhost sử dụng công cụ MercuryMail có sẵn trong XAMPP.
Sau khi tải về, bung nén chẳng hạn vào E:\xampp => Bạn có E:\xampp\xampp\htdocs.
Mở thư mục E:\xampp\xampp\Mercury Mail, tìm file MERCURY.INI và dán đè code sau vào:

Code:
#  MERCURY.INI generated by Mercury Setup
#
#
# Sample Bindery Mode MERCURY.INI file (in fact, the one I use on
# my production server). This one implements most of the possible
# switches for each module, but you can edit it to do less if you
# wish. All the fields shown below are described in the file
# MGUIDE.HLP which is supplied in the Mercury archive.
#
# Anything after a '#' to the end of the line is a comment and
# is stripped out before parsing. Trailing and leading whitespace
# is also stripped before parsing. Many sample commands have been
# left in this file commented out for reference purposes.
#

[General]
myname: localhost # Canonical name for this server
timezone: +0000 # Time Zone to add to date fields
file_api: 1 # Use the file api instead of queues
mailqueue: E:\XAMPP\XAMPP\MERCURYMAIL\QUEUE # Where mail should be put for delivery
smtpqueue: E:\XAMPP\XAMPP\MERCURYMAIL\QUEUE # Where the SMTP client should look for mail
newmail_path: E:\XAMPP\XAMPP\MERCURYMAIL\MAIL\~N # Where to find the users' WinPMail mailboxes.

[Protocols]
E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\mercurys.dll
E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\mercuryc.dll
E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\mercuryp.dll
E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\mercuryd.dll
E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\mercuryx.dll
E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\mercuryh.dll
E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\mercuryw.dll
E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\mercuryi.dll


[Mercury]
failfile: E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury\FAILURE.MER # Delivery failure notification template
confirmfile: E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury\CONFIRM.MER # Delivery confirmation template
aliasfile: E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury\ALIAS.MER # System-wide alias file
synfile: E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury\SYNONYM.MER # User synonym database
listfile: E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury\LISTS.MER # List of lists
logwidth: 30 # Width of address fields in logfile
retpath: 1 # Do/Don't use 'return-path' for errors
maxhops: 30 # Used to detect mailing loops
gullible: 0 # If NZ, don't validate 'From' fields
bitnethost: cunyvm.cuny.edu # Relay host for '.bitnet' rewrites
poll: 10 # Seconds between queue polling cycles
scratch: E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Scratch # Where we can write temp files
returnlines: 15 # How many lines of failed messages to return
postmaster: Admin # NetWare UIC of postmaster
broadcast: 1 # Yes, we want broadcast notifications, but
receipts: 0 # ... no broadcasts for receipt confirmations
PM_notify: 1 # Do/Don't send errors to the postmaster
change_owner: 1 # Change message ownership to recipient
auto_tzone: 1 # If NZ, obtain timezone information from OS
LogLevel: 15 # System message reporting level
LogMax: 100 # Maximum number of system messages to store
RetryPeriod: 30 # Period between job retries (minutes)
MaxRetries: 16 # Maximum number of times a job can fail
TwoPasses: 1 # If NZ, process submission queue in 2 passes
Autoaddress: 0 # If NZ, auto-generate user addresses based on name
Daily_exit: 0 # If NZ, auto-restart each day after maintenance
No_Areply: 0 # If NZ, disable automatic replies system-wide
Alt_Forward: 0 # If NZ, allow alternate forwarding specification
Maint_hour: 2 # Hour for daily maintenance (24-hour clock)
Maint_min: 0 # Minute for daily maintenance
Retry_Mode: 0 # If NZ, use progressive backoff for queue retries
Local_DSNs: 1 # If NZ generate Delivery Status for local users only
DSN_time1: 10800 # Seconds deferred before first DSN is sent
DSN_time2: 86400 # Seconds deferred before second DSN is sent
DSN_time3: 259200 # Seconds deferred before third DSN is sent
Host_in_title: 0 # If NZ, show hostname in system tray and taskbar

[MercuryC]
Host : smtp.gmail.com
Failfile : E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury\FAILURE.MER
HELO : JMB
Poll : 30
Scratch : E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury
ReturnLines : 15
Timeout : 30
ESMTP : 1
Server_Port : 465
SMTP_Username: mercurymailtester@gmail.com
SMTP_Password: testandmad
SMTP_ConnFlags : 8
POP3_Auth : 0
Log_Verbose : 0

[MercuryE]
Poll : 15
Timeout : 60
# Session_logging : o:\mail\mercury\melogs
# Session_logmode : 1
# Nameservers : 139.80.64.1

[MercuryD]
scratch : E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury
# Timeout : 30
# Poll : 120 # How often to check hosts for new mail (seconds)

[MercuryS]
Debug : 1
Logfile : E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Logs\MERCURYS.LOG
Timeout : 30
Relay : 1
Strict_Relay : 0
Allow_Illegals : 0
SMTP_Authentication : 0
Compliance_Settings : 0
Maximum_Failed_Rcpts : 4
Max_Relay_Attempts : 4
SSL_Mode : 0
ST_Blacklisting : 288
No_VRFY : 0
SMTP_ConnFlags : 0

[MercuryP]
Scratch : E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury
Stack : 32768
Mark_Read : 1
SSL_Mode : 0
Login_Disabled : 0
Timeout : 60

[MercuryX]
# Cmd_Delay: 10
# Cmd_Wait: 1
# IE4_Dialling: 0
# Use_ETRN: 1
# Clients_only: 1
# Sunday: 0800,1800,3,15,30,60
# Monday: 0830,2100,5,15,60,60
# Tuesday: 0830,2100,5,15,60,60
# Wednesday: 1500,1900,2,30,5,30
# Thursday: 0900,1900,2,30,0,0
# Friday: 0830,2100,5,15,60,60
# Saturday: 1031,1035,2,45,-1,0

# [Groups]
# testgroup : TESTGRP

[Domains]
localhost: localhost
localhost: localhost.net
localhost: localhost.org
localhost: localhost.com

[Maiser]
Maiser: Maiser # 'Username' of mail server account
Helpfile: E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury\MAISER.HLP # Help sent on failed maiser requests
Lookupfile: E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury\MAISER.LKP # Format file for the 'lookup' command
Send_dir: E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury\SENDABLE # Directory for the 'send' command
Logfile: E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Logs\MAISER.LOG # Mail server log file
Notify: E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury\TMP # Dir. for pending 'notify' commands
NoList: N # If 'Y', disable the 'list' command
Local_only: Y # If 'Y', local 'notify' commands only

[MercuryH]
Logfile : E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Logs\MERCURYH.LOG
# Addressbook : \\CLIO\SYS\SYSTEM\MERCURY\PH.PMR
# MOTD : \\CLIO\SYS\SYSTEM\MERCURY\PH-MOTD.TXT
# Administrator : postmaster@clio.pmail.gen.nz
Timeout : 30

[MercuryI]
Scratch : E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\SCRATCH
Timeout : 120
Server_Port : 143
Idle_Timeout : 1800
SSL_Mode : 0
Login_Disabled : 0

[MercuryB]
Scratch : E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\SCRATCH
# Logfile : o:\mail\tmp\mercuryb.log
Timeout : 120
Server_Port : 80
# Session_logging : o:\mail\mercury\mblogs
# Session_logmode : 0
Idle_Timeout : 1800
# URL_Base : enter_your_domain_here
[Groups]

[Rewrite]

[Statistics]
StatFlags: 0 # Statistical reporting settings
STF_Hours: 24 # How often to write stat log files
STM_Hours: 24 # How often to e-mail stat log files
Đặc biệt chú tâm đoạn code sau:


Code:
[MercuryC]
Host : smtp.gmail.com
Failfile : E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury\FAILURE.MER
HELO : JMB
Poll : 30
Scratch : E:\XAMPP\xampp\MERCURYMAIL\Mercury
ReturnLines : 15
Timeout : 30
ESMTP : 1
Server_Port : 465
SMTP_Username: mercurymailtester@gmail.com
SMTP_Password: testandmad
SMTP_ConnFlags : 8
POP3_Auth : 0
Log_Verbose : 0
Bạn có thể thay những thông số này bằng Gmail của bạn nếu cần.
Sau đó nhớ dùng XAMPP Controller start Mercury Mail (ở dưới cùng trong 4 cái), và test thử các hàm mail.
Đây là hướng dẫn cơ bản, chi tiết hơn sẽ đến khi mình có nhiều thời gian hơn. Bạn nào có thời gian thì viết giúp hướng dẫn đầy đủ nhé.
Thân mến.

(Sưu tầm)

Thứ Tư, 24 tháng 3, 2010

Tổng quan về các giải thuật khai thác dữ liệu có trong SQL Server Analysis Services

Giới thiệu tổng quan
Giải thuật Data Mining là kỹ thuật nhằm mục đích xây dựng các mô hình khai thác dữ liệu. Để xây dựng các mô hình khai thác dữ liệu thì một giải thuật, trước tiên phải tiến hành phân tích tập các dữ liệu và tìm kiếm các mẫu đặc trưng của dữ liệu. Giải thuật sử dụng các kết quả của việc phân tích này để xác định các tham số của mô hình khai thác. Các tham số này sẽ được áp dụng vào tập dữ liệu hiện tại để chiết xuất các mẫu thể hiện thông tin và các báo cáo thống kê chi tiết.

Mô hình khai thác dữ liệu do cùng một giải thuật Data Mining xây dựng có nhiều hình thức khác nhau, gồm có:
  • Tập các luật đặc tả cách thức mà các sản phẩm được nhóm lại với nhau trong cùng một giao tác hiện thực.
  • Cây quyết định dự đoán một người khách hàng có chăng sẽ mua sản phẩm của công ty.
  • Biểu đồ toán học dự báo hoạt động bán hàng.
  • Tập các nhóm thể hiện các trường hợp mà các nhóm dữ liệu có liên quan đến nhau
Microsoft SQL Server Analysis Services cung cấp các giải thuật cho việc xây dựng các giải pháp khai thác dữ liệu. Các giải thuật được sử dụng trong SSAS là tập con của nhiều giải thuật Data Mining khác.
Các nhóm giải thuật Data Mining
SQL Server Analysis Services cung cấp công cụ phân tích và khai thác dữ liệu dựa trên cơ sở 5 giải thuật Data Mining sau:
  • Giải thuật phân loại (Classification Algorithm) – dự đoán ra một hoặc nhiều giá trị biến rời rạc, dựa trên các thuộc tính khác của tập dữ liệu. Điển hình là giải thuật Cây Quyết Định – Microsoft Decision Trees Algorithm.
  • Giải thuật đệ qui (Regression Algorithm) – dự đoán một hoặc nhiều biến giá trị liên tục, như lợi nhuận và giá trị thua lỗ, dựa trên các thuộc tính dữ liệu khác trong tập dữ liệu. Điển hình là giải thuật chuỗi thời gian – Microsoft Time Series Algorithm.
  • Giải thuật phân đoạn (Segmentation Algorithm) – phân chia dữ liệu thành nhiều nhóm gồm các thành phần có thuộc tính tương tự nhau. Giải thuật điển hình là Microsoft Clustering Algorithm.
  • Giải thuật tương quan (Assocication Algorithm) – tìm sự tương quan giữa các thuộc tính trong củng tập dữ liệu. Ứng dụng phổ biến nhất của giải thuật này là xây dựng các luật tương quan, phân tích giỏ hàng. Giải thuật điển hình loại giải thuật này là Microsoft Assocciation Algorithm
  • Giải thuật phân tích tuyến tính (Sequence Analysis Allgorithm) – tổng kết các chuỗi hoặc mảng dữ liệu trong tập dữ liệu. Điển hình cho loại giải thuật này là Microsoft Sequence Clustering Algorithm
Ứng dụng của các giải thuật
Việc chọn lựa các giải thuật tối ưu để sử dụng cho một tác vụ nghiệp vụ đặc trưng thật sự là một thách thức rất lớn. Nguyên nhân do vấn đề là bạn có thể sử dụng rất nhiều giải thuật khác nhau cho cùng một tác vụ nghiệp vụ cụ thể, và mỗi loại giải thuật sẽ cho các kết quả khác nhau, không những thế, một số loại giải thuật có thể cho ra nhiều kết quả của cùng một tác vụ.
Ví dụ, bạn có thể dùng giải thuật cây quyết định không chỉ để dự đoán mà còn nhằm mục đích giảm số lượng cột trong tập dữ liệu, bởi vì cây quyết định có thể xác định các cột thuộc tính dữ liệu không có tác dụng trong mô hình khai thác dữ liệu.
Một vấn đề khác là bạn không sử dụng giải thuật một cách độc lập. Trong một mô hình khai thác dữ liệu đơn nhất, bạn có thể sử dụng nhiều giải thuật kết hợp với nhau, một số giải thuật hỗ trợ trong việc khai thác dữ liệu, một số giải thuật khác hỗ trợ việc dự đoán kết quả dựa trên tập dữ liệu hiện có. Ví dụ, ta có thể dùng giải thuật Clustering để nhận dạng các mẫu dữ liệu, phân loại dữ liệu thành các nhóm, sau đó sử dụng kết quả để xây dựng mô hình khai thác dữ liệu tốt hơn với giải thuật cây quyết định.
Ngoài ra, ta có thể sử dụng nhiều giải thuật trong cùng một dự án để thực hiện một số tác vụ, ví dụ dùng giải thuật truy hồi đệ qui để thể hiện các thông tin tài chính và dự đoán kinh doanh, và giải thuật dựa trên các luật để thực hiện việc phân tích giỏ hàng sản phẩm.
Mục tiêu của mô hình khai thác dữ liệu là khả năng dự đoán, đưa ra các thông tin thống kê, tổng kết và tìm kiếm sự tương quan ẩn. Bảng mô tả dưới đây trình bày sự phân loại các giải thuật vào một số chức năng tác vụ đặc trưng.


Tác vụ đặc trưng Giải thuật sử dụng
Dự đoán các giá trị thuộc tính có tính riêng biệt
Ví dụ: Dự đoán người nhận mail có khả năng mua sản phẩm trong một chiến dịch gửi mail PR
  • Microsoft Decision Tree Algorithm
  • Microsoft Naïve Bayes Algorithm
  • Microsoft Clustering Algorithm
  • Microsoft Neural Network Algorithm
Dự đoán các thuộc tính có tính liên tục
Ví dụ: Dự đoán hoạt động bán hàng các năm tới
  • Microsoft Decision Tree Algorithm
  • Microsoft Time Series Algorithm
Dự đoán chuỗi các tác vụ
Ví dụ: Phân tích chuỗi các hoạt động của người dùng trên Website
  • Microsoft Sequence Clustering Algorithm
Tìm kiếm nhóm các đối tượng trong giao tác hiện thực
Ví dụ: Phân tích giỏ hàng để tiến hành tư vấn, đề nghi cho khách hàng
  • Microsoft Association Algorithm
  • Microsoft Decision Tree Algorithm
Tìm kiếm các nhóm đối tượng tương tự nhau
Ví dụ: Phân đoạn dữ liệu thành các nhóm để nắm rõ hơn mối quan hệ giữa các thuộc tính.
· Microsoft Clustering Algorithm
· Microsoft Sequence Clustering Algorithm
Tài liệu tham khảo: http://msdn.microsoft.com

POLICY – BASED MANAGEMENT trong SQL Server 2008

Bạn đã từng chắc chắn rằng việc đăng nhập hay các nhóm người dùng của WIndows đều được đưa vào trong SQL Server, hay dịch vụ xp_cmdshell bị tắt đi, hoặc là không có một Store Procedure nào có định danh bắt đầu với “sp_”? Bạn đã từng làm việc với nhiều hơn một server trong hệ thống của bạn? Và đây chắc chắn là một vấn đề phức tạp, gây nhiều khó khăn khi làm việc với nhiều server, từ một instance của server này đến một instance của một server khác, việc truy vấn các đối tượng hệ thống, kiểm tra các thiết lập cấu hình, đảm bảo các instances của SQL Server đều được ổn định. Toàn bộ qui trình đều đã được thay đổi trong SQL Server 2008.
Policy Management in SQL Server 2008
Phiên bản SQL Server 2008 giới thiệu đến cho chúng ta một tính năng mới được biết đến với tên gọi “Policy – Based Management”. Framework này hỗ trợ bạn thiết lập các chính sách trên các đối tượng khác nhau và sau đó các policy này sẽ được thực hiện tự động hoặc là thủ công, để ngăn chặn các thay đổi vi phạm chính sách. Việc quản lí trở nên rất đơn giản thông qua công cụ SQL Server Management Studio, hoặc bạn có thể xây dựng các bộ mã nguồn của riêng mình trong việc quản lí các chính sách. Chúng ta hãy bắt đầu từ đầu.
Framework này hỗ trợ chúng ta quản lí một cách dễ dàng và tiên phong trong việc quản lí các chính sách khác nhau, sắp xếp 1 dãy từ việc bảo mật dữ liệu đến việc quản lí siêu dữ liệu. Và được thực hiện bằng 2 cách:
  • Hỗ trợ việc giám sát các thay đổi với các chính sách đã được thiết lập, tùy chọn này cho phép việc kiểm tra các chính sách một cách thủ công, kiểm tra các chính sách theo thời khóa biểu, ghi nhận các thay đổi của chính sách và các truy xuất bất hợp pháp.
  • Cho phép quản lí một hay nhiều instances của SQL Server trêng 1 server hay thông qua nhiều server.
Bạn có thể thiết lập ngay lập tức các chính sách quản lí cho sql server của bạn dựa trên các đặc tả hệ thống và ngăn chặn các thay đổi với các chính sách này, và ghi nhận lại các truy xuất bát hợp pháp vào trong server, vi phạm chính sách quản lí đã được thiết lập. Khả năng ngăn chặn các thay đổi phụ thuộc vào các tính năng, các khía cạnh khác và tùy thuộc vào chính sách mà bạn đã thiết lập.  Ví dụ, nếu như bạn muốn xp_cmdshell không bao giờ được bật trên bất cứ server nào được bạn quản lí, bạn có thể thiết lập chính sách kiểm tra việc này, và khi có thay đổi sẽ thông báo đến bạn,,  đồng thời được ghi nhận lại, thậm chí là bạn có thể tiến hành kiểm tra theo thời kóa biểu đã được thiết lập, nhưng bạn không thể ngăn chặn các thay đổi này một cách hoàn toàn tự động. Khả năng ngăn chặn các thay đổi rất đa dạng, phụ thuộc vào từng khía cạnh của bài toán.
Policy – Based Management in SQL Server  Management Studio
Việc thực hành tạo và áp các chính sách một cách dễ dàng với SQL Server Management Studio. Việc quản lí dựa trên các chính sách dễ dàng bị truy xuất bởi Policy Management trong Objects Explorer, như trong hình sau
1
Trong Objects Explorer, bạn dễ dàng tìm thấy được 3 items cơ bản là: Policies, Conditions, and Facets. Tuy không hiển thị ra ngoài, nhưng Policy Access Management có thể được truy xuất bằng cách phải chuột trên Policy Management của Object Explorer và chọn Manage Categories. Nhưng chúng ta sử dụng các chức năng này như thế nào? Bạn đừng lo, chúng ta sẽ đi sâu hơn vào trong các phần sau.
2
Policy – Based Management Objects
Policy – Based Management dùng nhiều đối tượng khác nhau để quản lí chính sách như: facets, conditions, policies, targets và categories.
Facets – các khía cạnh, tác vụ trong việc quản lí SQL Server Management
Facets là đơn vị trong framework. Facets là một loại đối tượng, như tính năng Surface Area, server, logon, database, user và một số vấn để khác. Mỗi facet là một tập các thuộc tính được định nghĩa trước áp vào các điều kiện được thiết lập.
Trong phiên bản CTP của SQL Server 2008, có tổng cộng 47 facets, với tổng cộng hơn 1492 thuộc tính. Bộ công cụ SQL Server Management Studio bao gồm một danh sách các facets dưới node FACETS trong Objects Explorer (Tìm thấy dưới Management\Policy Management).
image 
Nếu như bạn muốn xem danh sách các thuộc tính của mỗi facets, bạn hãy mở Properties của mỗi facet. Nếu như muốn xem nhanh danh sách và các thuộc tính của mỗi facet, bạn có thể dùng SQL Server Management Objects (SMO) để lặp qua các facets hiện hữu và các thuộc tính tương ứng như sau:
Facets – bản chất không thể tự đưa vào ứng dụng các Policies. Chúng được dùng bởi Conditions, để định nghĩa các Rules bạn cần và áp đặt vào các database, servers, hoặc các đối tượnng khác mà policies cần kiểm tra, giám sát.
Conditions – các điều kiện trong quản lí của SQL Server
Condition là một biểu thức  xác định trạng thái của một facet. Việc đặc tả một điều kiện bằng cách thiết lập các thuộc tính cho facet, các toán tử so sánh, và giá trị. Mội thuộc tính điều kiện trạng thái được thiết lập riêng cho từng loại dữ liệu  đặc trưng. Ví dụ, thuộc tính Name của facet Store Procedure thuộc kiểu dữ liệu String và ta có toán tử điều kiện là “bằng” (=), “không bằng” (!=), LIKE, NOT LIKE, IN, hoặc NOT IN, và có thể được so sánh với một String khác hay một danh sách các String. Thuộc tính SQL Mail của Surface Area facet có kiểu dữ liệu là Boolean, và chỉ có toán tử bằng và không bằng, đồng thời chỉ có tập giá trị là True và False.
Ngoài ra, một condition có thể chỉ gồm 1 thuộc tính của 1 loại facet đơn lẻ. Ví dụ, bạn có thể tạo một condition với state như sau “SQL Mail is disable and Database Mail is disable” bởi vì các thuộc tính này là thành phần của Surface Area facet. Bạn không thể tạo 1 condition cho 2 thuộc tính thuộc 2 facets khác nhau. Ví dụ như “Store Procedure Names must begin with ‘pr’ and xp_cmdshell is disable”. (2 facets đó là Store Procedure và Surface Area).
Bạn có thể tạo nhiều conditions cho cùng một facet, tuy nhiên việc làm này không nên làm cho 1 server, vì 1 trong 2 conditions sẽ ko có tác dụng. Ví dụ như bạn có thể tạo 2 conditions sau “SQL Mail is disable and Database Mail is disable” và “SQL Mail is enable and Database Mail is disable” cho cùng facet Surface Area.
SQL Server 2008 với một tập các conditions đựoc định nghĩa trước, bạn có thể sử dụng ngay lập tức. Ví dụ một condition có tên là Auto Shrink Disable – được sử dụng bởi một policy để đảm bảo rằng database không  được bật tùy chọn Auto Shrink.
Như mình đã trình bày ở phần trên, các bạn có thể thiết lập nhiều thuộc tính cho cùng một condition, một condition đa thuôc tính được thiết lập thông qua các toán tử OR, AND, …
Policies – các chính sách quản lí
Một policy kết hợp với một điều kiện với mục đích thúc đẩy hoặc kiểm tra điều kiện trên một hoặc nhiều server. Excution Mode của Policy xác định cách mà một policy được đưa vào thực hiện như thế nào. Excution Mode có 4 giá trị:
  • On Demand: Không kiểm tra hay thực hiện Policy. Chế độ này dùng là chế độ kiểm tra policy một cách thủ công.
  • On Schedule: Kiểm tra policy theo thời khóa biểu và tự động log thông tin lại khi có sự vi phạm policy
  • On Change – Log Only: Kiểm tra policy bất  khi nào có sự thay đổi thuộc tính liên quan của facet và log lại thông tin nếu như có sự vi phạm
  • On Change – Prevent: Kiểm tra policy bất cứ khi nào có sự thay đổi thuộc tính liên quan của facet và log lại thông tin, không chấp nhận sự thay đổi.
Tất cả policies đều có excution mode là On Demand hoặc On shedule. Nhưng chỉ một ít, có thể thiết lập giữa On Change – Log Only hoặc On Change – Prevent. Thiết lập cấu hình của Excution Mode thuộc một Policy được xác định bởi Condition cơ bản của Facet tương ứng. Thuộc tính của facet tương ứng có thể không cho phép bất cứ sự thay đổi nào. Bất cứ facet nào được kiểm tra bị log lại chỉ khi nào thay đổi đó vi phạm policy, hoặc là được check theo thời khóa biểu đã được thiết lập trước.
Target Sets
Conditions là nền tảng của việc thực hiện các Policies,ngoài ra còn được dùng trong các filter policies thông qua các target sets. Một target sets bao gồm một hay nhiều đối tượng trong cây phân cấp đối tượng, ví dụ như database, table, và conditions có nhiệm vụ lọc các đối tượng này khi policies tiến hành kiểm tra.
Tronng việc sử dụng target sets, ta liên kết với các conditions trong việc kiểm tra, ta có thể dùng các loại khác nhau của facets cơ bản của cùng một policy, thông qua việc dùng một condition để kiểm tra từng cấp độ một trong cây phân cấp các đối tượng.
Policy Category
Policy Category có chức năng nhóm các policies lại với nhau và hiện thực việc kiểm tra của các policy hoặc có thể cho phép các nhà quản trị database khả năng đặc tả tùy chọn tập các policy. Một policy thuộc về một policy category do người dùng định nghĩa hoặc là Category mặc định. Các policy Categories có thể được tạo khi định nghĩa một policy và được quản lí thông qua Manage Policy Categories Dialog Box.
Ta có thể tạo và enable một tập các policies, nhóm chúng lại trong một Policy Category và force cho toàn bộ các database để thực hiện các policies này. Nếu bạn không đưa một policy vào trong một Policy Category thì mặc định policy này sẽ được đưa vào trong Default Category. Đặc điểm của Default Category là không thể thay đổi một cách tùy ý các tùy chọn. Nếu như bạn áp 1 loạt các policy cho một loạt các database, nhưng có 1 database đặc biệt có tùy chọn khác với các databse khác thì bạn phải đưa policy này vào một category khác với Default Category và tùy chỉnh lại cấu hình.

Thứ Hai, 22 tháng 3, 2010

Khắc phục lỗi khi tất cả các trang đều dẫn tới Cpanel

Mình đã từng bị trường hợp này rồi, chắc bị virus hay sao đấy. Tất cả các trang đều dẫn tới:



Xử lý:
Bạn có thể vào đường dẫn C:\Windows\system32\Drivers\Etc\
Bạn mở file Hosts bằng Notepad rồi xóa hết đoạn địa chỉ IP từ sau dòng localhost
127.0.0.1 localhost
Sau đó bạn lưu lại rồi khởi động lại máy tính xem.
Bạn nhớ Clear hết History nhé. firefox còn lưu lại cache nên bạn vào cũng vẫn bị lỗi đấy.
------------------
Cám ơn nth đã chỉ mình cách này nha.

Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2010

Tạo ảnh nén siêu nhỏ chất lượng cao

Bạn đã từng nghe đến nhiều công cụ nén ảnh giúp tạo ra các bức ảnh dung lượng siêu nhỏ nhưng chất lượng rất cao – không kém ảnh gốc ban đầu. Tuy nhiên, mới đây WinSoftMagic, Inc phát hành phiên bản mới nhất của chương trình Advanced JPEG Compressor bỏ xa các chương trình cùng loại về khả năng tạo ra các bức ảnh siêu nhỏ chất lượng cao, với khả năng nén ảnh từ 90,5% - 96,7% so với ảnh gốc định dạng .bmp. Chương trình này tải tại http://tinyurl.com/cxnzu4.

1- Nén ảnh chất lượng cao:
 
Sau khi cài đặt, bạn hãy mở chương trình lên, sau đó vào mục File > Open rồi tìm đến tấm hình mình muốn thu nhỏ dung lượng. Bây giờ, để thu nhỏ dung lượng cho ảnh tới mức thấp nhất mà không làm mất chất lượng của ảnh, bạn hãy làm theo cách sau: trong khung Detail Quality Equalizer ở phía bên dưới cửa sổ làm việc của chương trình, bạn hãy kéo các thanh trượt lên phía trên cùng (vị trí max).

 
Lúc đó, bạn hãy theo dõi chất lượng của ảnh nén trong khung bên phải (còn khung bên trái là ảnh gốc bạn vừa đưa vào). Còn phía dưới mỗi bức ảnh là thông tin chi tiết về độ nén của ảnh và dung lượng của ảnh sau khi nén. Bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy dung lượng ảnh định dạng .bmp giảm từ 90,5% - 96,7%, còn ảnh .jpg thì giảm từ 35% - 50% mà chất lượng vẫn không thay đổi bao nhiêu cả.

 
Để gia tăng khả năng nén ảnh, trong khung Compression Levels bạn hãy kéo thanh trượt qua bên phải đến các giá trị 90 để tăng khả năng nén ảnh mạnh hơn nữa. Bây giờ, bạn vào File > Save As rồi tìm chỗ lưu bức ảnh của mình. Chắc chắn bạn sẽ có một bức ảnh rất chất lượng mà dung lượng giảm đi tới 35% - 96,7% so với bức ảnh ban đầu bất kể nó là định dạng gì.
 

2- Tác vụ khác:
 
Để xoay ảnh, bạn vào Edit > Rotate rồi chọn kiểu xoay ảnh mình thích. Để thay đổi kích thước ảnh, bạn vào Edit > Resize và lựa chọn các giá trị kích thước phù hợp. Để cắt ảnh thì bạn lại vào Edit > Crop và kéo khung cắt hình vào những vị trí bạn muốn. Chương trình còn hỗ trợ bạn tự động loại bỏ hiệu ứng mắt đỏ bằng tác vụ trong mục Edit > Remove Red Eyes. Để thêm watermark – đóng dấu lên ảnh, bạn vào Edit > Watermark > New rồi làm theo hướng dẫn để đóng dấu lên ảnh. Để thay đổi các yếu tố màu sắc, độ nét của ảnh bạn dùng các tác vụ trong mục Correct. Ngoài ra còn rất nhiều tính năng đầy sức mạnh khác mà bạn sẽ khám phá thêm trong quá trình sử dụng công cụ này.
 


Theo Xahoithongtin

Thứ Năm, 18 tháng 3, 2010

FTP là gì và sử dụng ra sao?


Mô hình hoạt động của giao thức FTP thông qua kết nối Internet - Ảnh minh họa: Internet
FTP
viết tắt từ File Transfer Protocol, một giao thức truyền tải tập tin từ một máy tính đến máy tính khác thông qua một mạng TCP hoặc qua mạng Internet. Thông qua giao thức FTP, người dùng có thể tải dữ liệu như hình ảnh, văn bản, các tập tin media (nhạc, video)... từ máy tính của mình lên máy chủ đang đặt ở một nơi khác hoặc tải các tập tin có trên máy chủ về máy tính cá nhân.

Giao thức FTP được sử dụng nhiều nhất vào mục đích truyền tải dữ liệu. Việc bộ phận IT của công ty tạo tài khoản FTP cho bạn là để có thể gửi những dữ liệu dung lượng lớn một cách nhanh chóng, vì không thể gửi qua email hay các phương thức sao chép vật lý khác như CD hay USB flash. Khi sử dụng FTP được cấp, bạn có thể gửi các tập tin có dung lượng vài trăm MB một cách dễ dàng, không cần phải lo lắng về việc người nhận không nhận được file.
Hơn nữa, bạn có thể cùng lúc tải (upload/ download) nhiều tập tin cùng một lúc để tiết kiệm thời gian. Tuy nhiên, yếu tố tốc độ đường truyền cũng đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải dữ liệu qua FTP.
FTP cũng là giao thức dùng để truyền tải dữ liệu web lên máy chủ web. 
Về phía người dùng khi tiếp cận FTP sẽ làm quen với các thông số sau:
- Địa chỉ máy chủ FTP: có dạng tên miền hoặc địa chỉ IP. Ví dụ: ftp.nhipsongso.tuoitre.com.vn (dạng tên miền) hoặc 192.168.1.1 (dạng IP tương ứng với tên miền). Địa chỉ máy chủ FTP theo dạng tên miền được dùng phổ biến hơn vì dễ nhớ hơn so với những con số và dấu chấm của địa chỉ IP.
- Tên tài khoản (username)/ mật khẩu (password) để đăng nhập vào máy chủ FTP. Tùy thuộc vào quản trị viên cấp quyền hạn trên máy chủ FTP mà tài khoản FTP của bạn sẽ có những quyền cơ bản như tải (upload/ download), tạo thư mục, sao chép hay xóa dữ liệu.
Lưu ý bảo mật thông tin tài khoản vì dữ liệu trên máy chủ có thể bị kẻ gian xâm nhập, đánh cắp và xóa đi.
Cách truyền tải dữ liệu qua giao thức FTP và sử dụng FTP client
Tin bài liên quan
Có thể tận dụng ngay trình duyệt web Internet Explorer hay Windows Explorer hoặc thông qua tập lệnh (FTP commands) để kết nối đến máy chủ FTP, nhưng sẽ rất khó khăn để thao tác cho những người dùng phổ thông không am hiểu nhiều về kỹ thuật. Do đó, các chương trình sử dụng FTP chuyên dụng hay còn gọi là FTP client sẽ là giải pháp tốt nhất để truyền tải dữ liệu.
Các chương trình FTP client sẽ thực hiện công việc kết nối đến máy chủ FTP sau khi bạn nhập đầy đủ thông tin (máy chủ FPT, tài khoản đăng nhập), hỗ trợ thao tác kéo/ thả, tạo thư mục (folder) tương tự như thao tác trên Windows Explorer.
Có khá nhiều chương trình FTP Client từ miễn phí đến thương mại, một số chương trình phổ biến như WinSCP và FileZilla cho máy tính dùng hệ điều hành Windows hay CyberDuck cho máy Mac. CuteFTP Pro của hãng GlobalSCAPE là một chương trình FTP Client rất chuyên nghiệp nhưng là phiên bản thương mại có phí. Tùy theo nhu cầu sử dụng mà bạn chọn lựa một chương trình thích hợp.
Trong phần hướng dẫn này, bạn có thể làm quen với WinSCP phiên bản portable (không cần cài đặt để sử dụng). Tải WinSCP portable tại đây. Giải nén và chạy tập tin WinSCP.exe.
Giao diện yêu cầu nhập thông số tên máy chủ FTP (Host name) và tài khoản (Username/ password) để đăng nhập
Sau khi đăng nhập thành công vào máy chủ FTP, bạn sẽ thấy giao diện WinSCP được chia làm 2 phần: bên trái hiển thị dữ liệu có trên ổ cứng của bạn, có thể chuyển đổi qua lại giữa các ổ đĩa để tìm đúng file cần sử dụng; bên phải là dữ liệu trên máy chủ FTP.
Giao diện bao gồm phần dữ liệu cục bộ trên máy tính ở bên trái và dữ liệu trên máy chủ FTP ở bên phải
Để truyền tải file (download hay upload) từ máy tính lên máy chủ FTP hoặc ngược lại, bạn chỉ cần click chọn tập tin (file) hay thư mục (folder) rồi kéo thả sang khung bên cạnh, chờ cho việc truyền tải hoàn tất, bạn sẽ thấy ở khung bên cạnh xuất hiện tập tin vừa tải.
Các chương trình FTP Client còn lại như FileZilla, CuteFTP Pro hay SmartFTP cũng đều có giao diện tương đối giống nhau. Tuy nhiên, mỗi chương trình sẽ có mức độ hỗ trợ tùy chỉnh tính năng khác nhau, ví dụ như cùng lúc tải nhiều tập tin, cùng lúc kết nối đến nhiều máy chủ FTP hay chọn lựa chế độ kết nối bảo mật (SSH, SFTP...), mã hóa. Bạn chỉ cần nắm rõ những thao tác cơ bản trên là có thể truyền tải dữ liệu qua giao thức FTP bằng FTP Client.
THANH TRỰC

Hiển thị và chuyển đổi tập tin trực tuyến miễn phí với Docspal

Nếu bạn muốn chuyển đổi tài liệu, hình ảnh hay các tập tin nén như .rar và .cab sang các định dạng khác thì Docspal có thể sẽ là công cụ cần thiết dành cho bạn. Đây là ứng dụng web hoàn toàn miễn phí, không những cho phép bạn chuyển đổi lượng lớn các định dạng khác nhau mà còn hỗ trợ tính năng hiển thị tập tin hiệu quả.

Bạn có thể chuyển đổi PDF sang DOC, DOCX; JPEG sang BMP, .ZIP sang các định dạng khác và nhiều hơn nữa. Cụ thể như nói trên, ngoài khả năng chuyển đổi định dạng tập tin thì Docspal còn cho phép bạn hiển thị các tập tin được upload.
Để có được kết quả cuối cùng, bạn cần trải qua ba bước cơ bản. Đầu tiên là lựa chọn tập tin cần chuyển đổi từ máy tính, sau đó chọn định dạng sẽ chuyển đổi cho tập tin đó và cuối cùng nhấp nút Convert để yêu cầu Docspal xử lý.
Nếu bạn không muốn chờ đợi, tùy chọn 'Send a download link to my email address - Gửi liên kết download tới địa chỉ email' sẽ thích hợp cho bạn. Hãy tích kiểm tùy chọn, nhập địa chỉ email cá nhân, nhấp nút Convert và quay ra làm các công việc khác mà bạn muốn. Khi đó liên kết download sẽ được tự động gửi tới email cho bạn khi tiến trình chuyển đổi thành công. Còn trường hợp bạn chờ đợi, bạn sẽ nhìn thấy trạng thái làm việc của Docspal. Khi tiến trình kết thúc, liên kết download tương ứng tập tin xuất hiện và bạn chỉ cần nhấp lên nó để tải về máy tính của mình.
Tại cùng một thời điểm, Docspal cho phép bạn chuyển đổi tối đa 5 tập tin. Ở đây, Docspal sẽ xóa tập tin gốc được upload lên và tập tin sau khi chuyển đổi sẽ được lưu trữ cho download trong vòng 5 ngày. Đồng thời Docspal không cho phép convert tập tin có kích thước vượt quá 20 MB.
Dưới đây là danh sách các định dạng tập tin được hỗ trợ, lấy từ Docspal:
  • CSV (Comma Separated Values) sang HTML, ODS, PDF, TXT, XLS, XLSX.
  • DOC (Microsoft Word Document) sang DOCX, HTML, ODT, PDF, RTF, TXT.
  • DOCX (Microsoft Word 2007 Document) sang DOC, HTML, ODT, PDF, RTF, TXT.
  • ODP (trình diễn OpenDocument) sang PDF, PPT, PPTX, RTF.
  • ODS (bảng tính OpenDocument) sang CSV, HTML, PDF, TXT, XLS, XLSX.
  • ODT (tài liệu text OpenDocument) sang DOC, DOCX, HTML, PDF, RTF, TXT.
  • PPT (Microsoft Powerpoint Presentation) sang ODP, PDF, PPTX, RTF.
  • PPTX (Microsoft PowerPoint 2007 Presentation) sang ODP, PDF, PPT, RTF
  • RTF sang DOC, DOCX, HTML, ODT, PDF, TXT.
  • TXT sang DOC, DOCX, HTML, ODT, PDF, RTF.
  • XLS (Microsoft Excel Spreadsheet) sang HTML, ODS, PDF, TXT, CSV, XLSX.
  • XLSX (Microsoft Excel 2007 Spreadsheet) sang HTML, ODS, PDF, TXT, CSV, XLS .
  • GIF sang BMP, JP2, JPEG, PNG, PSD, TIFF, TGA.
  • JP2 sang BMP, GIF, JPEG, PNG, PSD, TIFF, TGA.
  • JPEG sang BMP, GIF, JP2, PNG, PSD, TIFF, TGA.
  • PNG sang BMP, GIF, JP2, JPEG, PSD, TIFF, TGA.
  • PSD (Photoshop document) sang BMP, GIF, JP2, JPEG, PNG, TIFF, TGA.
  • TIFF sang BMP, GIF, JP2, JPEG, PNG, PSD, TGA.
  • TGA (Truevision Targa Graphic) sang BMP, GIF, JP2, JPEG, PNG, PSD, TIFF.
  • BMP sang GIF, JP2, JPEG, PNG, PSD, TIFF, TGA
Bạn đọc truy cập tới http://www.docspal.com/ để tương tác với Docspal.
Mạnh Tùng (Theo GuidingTech)

Thứ Tư, 17 tháng 3, 2010

Hướng dẫn cài đặt SQL Server 2008

 Trước khi cài đặt SQL Server 2008 bạn cần phải chắc chắn rằng máy của bạn sẽ đáp ứng được các yêu cầu đối với SQL Server 2008. Có rất nhiều các yêu cầu khác nhau về SQL Server 2008 mà máy phải đáp ứng, nó phụ thuộc vào phiên bản SQL Server bạn đang cài đặt và nền tảng hệ điều hành bạn đang sử dụng.
Cài đặt máy:

Trước khi cài đặt SQL Server 2008 bạn cần phải chắc chắn rằng máy của bạn sẽ đáp ứng được các yêu cầu đối với SQL Server 2008. Có rất nhiều các yêu cầu khác nhau về SQL Server 2008 mà máy phải đáp ứng, nó phụ thuộc vào phiên bản SQL Server bạn đang cài đặt và nền tảng hệ điều hành bạn đang sử dụng. Trước khi cài đặt SQL Server 2008, bạn nên xem lại các trang web sau đây để xác định các cài đặt máy đúng cho môi trường của bạn: http://msdn.microsoft.com/en-us/library/ms143506.aspx.
Với mục đích của bài viết này tôi sẽ cài đặt một phiên bản đánh giá của SQL Server 2008 Enterprise Edition.Từ các cơ sở hệ thống điều hành này, tôi sẽ cài đặt SQL Server trên phiên bản Windows 2003 Enterprise Edition SP1 . Máy của tôi cũng được cài đặt cấu hình với các ổ đĩa C, D, E, F, G. Tôi sẽ sử dụng các ổ đĩa khác nhau để đặt các thành phần khác nhau của SQL Server.
Quá trình cài đặt ban đầu

Lần đầu tiên cho đĩa CD SQL Server 2008 vào ổ đĩa của bạn, nó sẽ tự động khởi động quá trình thiết lập cho SQL Server 2008. Nếu cài đặt không bắt đầu bạn có thể tìm tập tin “setup.exe” và chạy nó. Khi bắt đầu quá trình cài đặt nó sẽ kiểm tra máy tính của bạn để đảm bảo .Net Framework và một bản copy update của bộ cài đặt Windows đang ở trên máy tính của bạn. Nếu quá trình này không xảy ra trên máy tính của bạn, nó sẽ yêu cầu thiết lập cài đặt trước khi bạn có thể cài đặt SQL Sever 2008. Khi bạn đã cài đặt chúng thì máy sẽ yêu cầu khởi động lại trước khi bạn có thể tiến hành cài đặt SQL Server 2008. Một khi máy tính của bạn có tất cả các điều kiện thích hợp thì máy sẽ tiến hành cài đặt và quá trình thiết lập sẽ như sau:

Trên cửa sổ này bạn có thể thấy có một số lựa chọn khác nhau mà bạn có thể sử dụng. Có các items khác nhau của SQL Server 2008 bạn có thể chọn ở khung bên phải nằm trong một item ở khung bên trái đã chọn. Trong trường hợp của tôi, hiện tại tôi đang chọn item “Planning”. Lưu ý nó được hiển thị trong font chữ đậm. Để cài đặt SQL Server 2008, tôi sẽ cần phải bấm vào "installation". Khi đó màn hình hiển thị:



Trên cửa sổ này bạn cũng có thể có một số sự lựa chọn khác nhau liên quan đến cài đặt SQL Server. Với mục đích của bài viết này tôi sẽ nói lướt qua item đầu tiên "New SQL Server stand-alone installation or add features to an existing installation" ("SQL Server cài đặt đơn giản hoặc thêm các tính năng") để tạo ra một sự đặc trưng cho SQL Server 2008.
Tiến trình cài đặt SQL Server 2008.

Khi bạn nhấn vào "New SQL Server stand-alone installation or add features to an existing installation" (SQL Server cài đặt đơn giản hoặc thêm các tính năng để thiết lập cài đặt) một loạt các quá trình sẽ chạy và một số hộp thoại sẽ được hiển thị cho phép bạn cấu hình SQL Server 2008 theo cách bạn muốn. Trong SQL Server 2008 một số tùy chọn cấu hình mới hiển thị trong quá trình cài đặt, mà trong phiên bản trước không có.

Sau click vào "New SQL Server stand-alone installation" máy sẽ thiết lập quá trình kiểm tra xác minh rằng hệ thống của bạn được thiết lập đúng. Đầu tiên là kiểm tra cấu hình hệ thống. Sau mỗi quy trình kiểm tra quy trình, bạn có một báo cáo tóm tắt nói hệ thống của bạn đã hợp quy cách hay chưa. Trong báo cáo đó, bạn có các tùy chọn để xem một báo cáo chi tiết về từng quy tắc. Tôi xin đề nghị bạn xem báo cáo quy tắc chi tiết để xác minh báo cáo. Nếu bạn tìm thấy một quy tắc cần phải được chữa lại, bạn sẽ cần phải giải quyết vấn đề và sau đó kiểm tra lại quy tắc.

Cửa sổ tiếp theo hiển thị : "Product Key". Trên cửa sổ này, bạn sẽ cần phải chọn phiên bản bạn muốn cài đặt và nhập Product Key. Danh sách các phiên bản hiển thị sẽ phụ thuộc vào những phương tiện mà bạn sử dụng để cài đặt. Chọn phiên bản phù hợp và key và sau đó bấm vào nút "Next". Tiếp theo là cửa sổ hiển thị điều khoản về giấy phép "License Terms". Trên màn hình này bạn nên đọc các điều khoản giấy phép. Nếu bạn đồng ý với các điều khoản cấp phép thì bạn click vào ô chấp nhận và ấn nút "Next" để chuyển sang cài đặt. Tiếp theo, bạn sẽ được nhắc nhở để cài đặt các tập tin cài. Click vào nút "Install" để bắt đầu quá trình cài đặt file. Sau khi tất cả các file được cài đặt, một bản tóm tắt của quá trình thiết lập cài đặt sẽ được đưa ra. Nếu tất cả các điều kiện thiết lập cần thiết có đủ, bạn sẽ cho phép để tiến hành cài đặt, nếu không bạn sẽ cần phải khắc phục những vấn đề trong báo cáo và chạy lại việc cài đặt thiết lập. Một lần nữa quá trình này đã thiết lập một đường link để bạn có thể xem lại các chi tiết của việc cài đặt thiết lập. Tôi đề nghị bạn xem lại các chi tiết trước khi tiến hành, để bạn biết chính xác về mỗi quy tắc cài đặt. Một khi bạn đã sẵn sàng cài đặt bạn nhấp vào nút "Next".Một cửa sổ hiện ra:

Cửa sổ màn hình hiển thị tính năng khác nhau của SQL Server 2008 mà bạn có thể cài đặt. Ở đây bạn sẽ bấm vào các ô thích hợp cho các tính năng bạn muốn cài đặt. Với mục đích của bài viết này tôi sẽ chỉ chọn "Database Engine Services", "SQL Server Books Online", "Management Tools - Basic", và "Management Tools -Complete". Ngoài ra, cũng trên màn hình này bạn có thể chọn thư mục chứa các cái cài đặt này. Trong trường hợp của tôi cài đặt các tính năng được để trên ổ đĩa E. Sau khi tất cả các tính năng được chọn, và bạn đã xác định vị trí nơi bạn muốn các tính năng chia sẻ được cài đặt, bạn có thể sau đó nhấp vào nút "Next" để tiến hành. cửa sổ sau sẽ hiện ra:


Trên cửa sổ chỉ rõ bạn có hay là không cài đặt default instance hoặc là một named instance, và bạn tự điền ID của riêng mình và thư mục gốc chưa cái đó. Trong cài đặt của tôi, tôi cài đặt mặc định là “default instance” và định danh cho instance ID là MSSQLSERVER. Trong phần thư mục gốc “instance root directory”, tôi chỉ định một địa điểm nằm trong ổ C. Một lần nữa bạn click vào nút “Next”. Tiến trình cài đặt sẽ tính toán dung lượng còn trống của ổ đĩa có đủ cho những đặc tính bạn chọn hay không. Quá trình sẽ báo cáo dung lượng trống cho mỗi ổ đĩa. Xem lại yêu cầu dung lượng trống của ổ đĩa. Nếu không đủ, bạn cần phải chỉ định một địa điểm khác, bạn có thể sử dụng nút “back” để quay trở lại và thay đổi địa điểm cài đặt. Nếu đã thỏa mãn với dung lượng trống và địa chỉ, bạn clik vào nút “Next”. Cửa sổ mới sẽ hiện ra:
Trên cửa sổ này bạn có thể sử dụng thẻ "Server Accounts" để chị định tài khoản mà bạn sẽ sử dụng để chạy services SQL Server 2008 khác và sử dụng thẻ "Collation" để chỉ định dãy hòa trộn mà bạn muốn sử dụng. Tôi tích sử dụng tài khoản tên miền để chay services của tôi. Trong trường hợp của tôi, tôi chọn tài khoản giống nhau cho tất cả services của SQL Server. Bởi vậy tôi có thể vào tài khoản đó nhiều lần với mỗi service hoặc có thể click vào "Use the same account for all SQL Server services" và chỉ nhập tài khoản và mật khẩu một lần duy nhất. Trên màn hình bạn còn có thể chỉ định status mỗi service bạn muốn trong lúc khởi động. Sự lựa chọn của bạn là "Manual", "Automatic" hoặc "Disabled". Tôi muốn rằng hệ thống SQL Server Agent và SQL Server Database của tôi bắt đầu tự động và service SQL Server Browser trở nên mất tác dụng hơn. Để cài đặt dãy hòa trộn bạn sử dụng tab "Collation". "Collation" mặc định cài đặt là "SQL_Latin1_General_CP1_CI_AS". Tôi đề nghị bạn click vào thẻ “Collation” để xác minh dãy hòa trộn đúng là chỉ định trước khi tiến hành, một lần nữa bạn có đầy đủ điều kiện để cài đặt cấu hình server, bạn click vào nút “Next” để quá trình cài đặt được tiến hành. Cửa sổ mới sẽ hiện ra như sau:
Trên màn hình, bạn chỉ định các thông tin cấu hình của cơ sở dữ liệu. Có 3 thẻ khác nhau để thực hiện: Account Provisioning, Data Directories, và FILESTREAM. Ở trên bạn có thể nhìn thấy tùy chọn cấu hình "Account Provisioning". Ở đây bạn có thể chỉ định những đặc tính bằng cách bạn chỉ sử dụng cửa sổ xác thực hoặc bạn muốn chạy chế độ hỗn tạp để hỗ hợ SQL Server và cửa sổ xác thực thông tin đăng nhập. Nếu bạn chọn "Mixed Mode" sau đó bạn sẽ cần điền mật khẩu cho tài khoản SA (không gì sai lầm hơn việc để tài khoản SA trống). Một sự thay đổi khác là user "BUILTIN\Administrators" không được add thêm vào theo mặc định, bởi vậy không có nhiều back door cho thành viên của nhóm quản trị. Bây giờ, bạn còn có thể thêm một tùy chọn để thêm users mà bạn muốn thay thế trong “syadmin”. Tôi đề nghị bạn đặt ít nhất một người sử dụng ở đây. Điều này cho phép người sử dụng có thể login vào SQL Server 2008 sau khi cài đặt hoàn thành. Bạn làm điều đó bằng cách sử dụng nút “Add” để thêm chúng trong màn hình bên trên. Ngoài ra, bạn còn có thể sử dụng nút “Add Current User” để thêm use trong quản trị hệ thống.
Bây giờ bạn có rất nhiều tùy chọn cho cách cấu hình thư mục dữ liệu bạn muốn trong lần cài đặt, để điền thông tin bạn click vào “Data Directories” ở cửa sổ ở trên. Một cửa sổ mới sẽ hiện ra:
Như bạn có thể nhìn thấy, bạn có thể chỉ định các thư mục khác nhau cho: user database DATA files, user database LOG files, tempdb DATA/LOG files, và back up directory.
Điều này cho phép bạn tách rời dễ dàng hơn databases DATA và LOG files của bạn trên các ổ đĩa khác nhau. Và cũng đảm bảo system databases and files tempdb ở trên các ổ đĩa khác nhau. Khi bạn làm điều này, thì giờ đây bạn tối ưu hơn trong việc đặt các thành phần của bạn trong làn cài đặt để giảm tắc nghẽn I/O. Đây là cách tôi cấu hình thư mục của tôi:
Tôi đã đặt file user database DATA của tôi trên ổ E, trong khi đó files user LOG trên ổ G. Tôi còn đặt tempdb DÂT và LOG files trên ổ F. Điều này sẽ giup tôi tách rời một vài ổ đĩa giữa các thành phần.
Nếu bạn muốn cấu hình FILESTREAM trong suốt quá trình cài đặt, bạn có thể sử dụng thẻ “FILESTREAM”. Thông tin bên dưới thẻ này cho phép bạn chỉ định chính xác cách mà bạn muốn kích hoạt và cấu hình FILESTREAM.
Một khi bạn đã hài lòng với tùy chọn cấu hình cơ sở dữ liệu, bạn nhấn vào nút “Next”. Việc làm này sẽ mang lại một cửa sổ "Errors and Usage Reporting" nơi bạn có thể gửi lỗi và thông tin về tính năng sử dụng cho Microsoft. Một khi bạn đã quyết định báo cáo tới Microsoft sẽ có nút “Next” khác để click để chuyển sang bước tiếp theo của quá trình cài đặt, đó là tất cả xác minh của quy định cài đặt. Bạn nên kiểm tra cửa sổ này đẻ xác minh rằng tất cả quy định cài đặt đều được được đáp ứng cho mỗi thành phần bạn cài đặt, và sau đó click vào nút “Next”. Điều này sẽ mang lại cho bạn cửa sổ cài đặt cuối cùng. Tại đây, bạn có được đánh giá cuối cùng về tùy chọn cài đặt mà bạn đã lựa chọn. nếu có một vài thứ bạn muốn thay đổi, bạn có thể sử dụng nút “Back” để thay đổi chúng. Một khi bạn đã hài lòng với cấu hình cài đặt bạn click vào nút “install”. Máy sẽ bắt đầu tiến trình cài đặt và cài đặt các thành phần bạn đã lựa chọn ở trong địa điểm bạn đã chỉ định. Khi quá trình cài đặt kết thúc, cửa sổ sau đây sẽ hiện ra:
Ở đây, bạn có thể thấy tất cả các thành phần tôi đã chọn vừa được cài đặt thành công. Cài đặt SQL Server 2008 trong trường hợp của tôi với các thành phần tôi đã chọn đã được thực hiện. Khi tôi click vào nút “Next”, màn hình “Close” được hiển thị, tôi có thể click vào nút “close” để kết thúc quá trình cài đặt SQL Server 2008.
Kết quả
Bây giờ tôi đã nói xong quá trình cài đặt, bạn có thể thấy có nhiều lựa chọn khác nhau để cấu hình SQL Server 2008. Hy vọng rằng bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ về các tùy chọn khác nhau bạn cần xem xét theo thứ tự để đảm bảo cấu hình cài đặt của bạn diễn ra trôi chảy. Tôi đề nghị bạn lên kế hoạch trước cho các thành phần của SQL Server trên các ổ đĩa khác nhau và những tài khoản bạn có hoặc những tài khoản bạn muốn sử dụng cho các tính năng khác nhau của SQL Server. Điều này sẽ giúp bạn thành công trong việc cấu hình SQL Server theo cách bạn muốn trong lần cài đặt SQL Server 2008 lần đầu tiên.

Thứ Hai, 15 tháng 3, 2010

Digg từ bỏ MySQL, chuyển sang dùng NoSQL

Trang bầu chọn nội dung lớn nhất trên Internet Digg.com đang trong quá trình thay đổi toàn bộ hạ tầng phần mềm nhằm tăng tốc ứng dụng cũng như mở rộng mạng lưới. Một trong những nội dung quan trọng nhất đó là nỗ lực thay thế gần như toàn bộ cơ sở dữ liệu nguồn mở nổi tiếng nhất mà họ đã sử dụng từ ngày thành lập cho đến nay, MySQL.

Cassandra logo
Thay cho MySQL - một cơ sở dữ liệu quan hệ, vốn là loại cơ sở dữ liệu phổ biến nhất - là Cassandra, một loại cơ sở dữ liệu không phải là quan hệ (được gọi chung là các cơ sở dữ liệu NoSQL). Cassandra vốn là 1 sản phẩm nguồn mở của Facebook, nay nằm dưới sự điều hành của Apache Software Foundation.
Theo các lập trình viên của dự án Cassandra, cơ sở dữ liệu này hiện đang được dùng bởi Rackspace, Facebook, Twitter. Và nay danh sách này có thêm Digg.
John Quinn, phó chủ tịch phụ trách kỹ thuật tại Digg cho biết họ đã phát triển một công cụ giúp cho việc chuyển đổi từ MySQL sang Cassandra được dễ dàng và nhanh chóng hơn (với sự trợ giúp của Hadoop -- cũng là một dự án của Apache Software Foundation về ứng dụng phân tán). Công cụ này sẽ được mở nguồn trong thời gian tới nhằm hỗ trợ những cá nhân hay tổ chức có ý định chuyển đổi tương tự.
Giải thích về nguyên nhân thay thế MySQL, Quinn cho biết Cassandra là một mô hình cơ sở dữ liệu phân tán hoàn toàn, có khả năng chịu lỗi cực tốt. Một tính chất nữa là nó rất linh hoạt, tốc độ đọc/ghi tăng tuyến tính khi bổ sung thêm hạ tầng mới. Những đặc điểm này của một hệ cơ sở dữ liệu không quan hệ là thích hợp hơn với các ứng dụng phân tán lớn như Digg hơn là các cơ sở dữ liệu quan hệ truyền thống.
Mặc dù hầu hết hạ tầng phần mềm của Digg sẽ dùng Cassandra, MySQL vẫn được dùng trong một số trường hợp đặc biệt như một vài ứng dụng cụ thể hay khi cần triển khai mô hình ứng dụng nhanh chóng. "MySQL có mức độ mềm dẻo mà Cassandra không thể có. Nó rất thích hợp với các dự án nhỏ", Quinn cho biết.
Theo DatamationThe H.

Thứ Bảy, 13 tháng 3, 2010

BKAV vi phạm bản quyền phần mềm ?

Một thành viên diễn đàn HVAonline tên là TQN đã có một số phát hiện khá thú vị về BKAV pro, trong đó quan trọng nhất là phần mềm này đã vi phạm bản quyền. Sự việc đã được thaidn tổng hợp trên blog vnhacker.

Theo đó, phần mềm BKAV Pro (được bán với giá 299.000 đồng) đã vi phạm một số điều sau:
  • Sử dụng thư viện diStorm64 mà không tuân theo luật BSD (lẽ ra phải ghi chú trong BKAV là họ đã sử dụng thư viện này, cùng các giấy phép kèm theo).
  • Sử dụng WinRAR là một shareware (trial 40 ngày, không được phép thương mại hoá) mà không có giấy phép. Ngoài ra WinRAR cũng không cho phép phân phối lại một phần thư viện của nó (BKAV chỉ chứa mỗi tập tin rar.exe mà "bỏ qua" các tập tin bản quyền, hướng dẫn...)
Hai thư viện này nằm trong SysInfo.dll của BKAV Pro (trong thư mục %Program Files%\BKAV).
Ngoài ra, TQN còn có một phát hiện khác là BKAV dính khá nhiều lỗi bảo mật (do biên dịch trên phiên bản cũ của Visual C++ và do viết chương trình không tốt). Gần đây, Blue Moon Security có thông báo cho BKIS hai lỗi bảo mật của BKAV, nhưng bị từ chối và BKIS không cho rằng đó là lỗi.
Mong rằng BKAV sẽ sớm khắc phục được các vấn đề này để đảm bảo tương lai. Như Nguyễn Tử Quảng phát biểu: “Tôi đang đầy tham vọng đưa Bkav ra thị trường toàn cầu.
Hải Nam (theo vnhacker)

Thứ Sáu, 12 tháng 3, 2010

Câu chuyện bản quyền của các hãng công nghệ Mỹ

Ảnh: Erictric.
Ảnh: Erictric.
"Tôi hiểu Google, Steve Jobs cũng từng dọa kiện tôi như thế", cựu giám đốc Sun Microsystems mở đầu bài viết trên blog, đề cập đến vụ tranh chấp giữa Apple và HTC, nhà sản xuất Nexus One cho Google.
Với tiêu đề "Good Artists Copy, Great Artists Steal" (Nghệ sĩ giỏi sẽ sao chép, còn nghệ sĩ vĩ đại sẽ biết cách ăn cắp - câu nói của Picasso), Jonathan Schwartz kể lại chuyện từng diễn ra tại Sun.

Khi công ty này chuẩn bị tung ra phiên bản Linux mang tên Project Looking Glass năm 2003, Steve Jobs gọi cho Schwartz quả quyết rằng đồ họa trong phần mềm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của Apple. Nếu Sun định thương mại hóa công nghệ, "Quả táo"sẽ kiện họ.
Schwartz liền trả lời: "MacOS được phát triển dựa trên Unix. Tôi nghĩ là Sun cũng đang nắm một vài bản quyền liên quan đến hệ điều hành của các ngài" và Jobs im lặng.
Sau đó, đến lượt Bill Gates và Steve Ballmer bay đến Silicon Valley gặp gỡ ban lãnh đạo của Sun. "Chúng tôi ngồi với nhau trong phòng họp Menlo Park, Bill bỏ qua những trao đổi xã giao mà đi thẳng vào vấn đề: Microsoft thống trị thị trường ứng dụng văn phòng và sở hữu một số bản quyền của OpenOffice (ứng dụng văn phòng mã mở mà Sun mong đợi sẽ thay thế cho Microsoft Office)", Schwartz kể.
Gates cũng đe dọa tương tự Steve Jobs nhưng đưa ra một giải pháp khác: "Chúng tôi sẽ để yên nếu các ngài chịu trả một khoản lệ phí cho mỗi lượt tải". Schwartz lập tức phản ứng rằng nền tảng .NET của Microsoft lấy từ Java. "Cuộc họp kết thúc chóng vánh", cựu CEO của Sun viết.
Cả Microsoft và Apple đều không bình luận về blog của Schwartz. Tuy nhiên, câu chuyện trên cho thấy việc các hãng sử dụng chồng chéo công nghệ của nhau. Họ cáo buộc người khác "ăn trộm tài sản" không có nghĩa là họ không xâm phạm bản quyền. Chẳng hạn, Apple kiện Nokia, HTC, Google... ăn cắp bản quyền liên quan đến thiết kế và giao diện thì Nokia cũng có thể đáp trả lại họ trong lĩnh vực dữ liệu không dây, bảo mật và mã hóa...
Châu An

Bài đăng phổ biến