Chủ Nhật, 31 tháng 10, 2010

3 layer trong c#

Tài liệu cũ của thầy Long Nam: http://www.mediafire.com/?dmv252iw6nz

Câu chuyện về game máy tính phổ biến nhất thế giới

20 năm qua, có một trò chơi thu hút nhiều nhân viên văn phòng hơn bất kỳ game nào khác dù nội dung của nó không chút bạo lực hay có yếu tố sex. Đó là game chơi bài Windows Solitaire.
Với sự nở rộ của game bắn súng, game nông trại, game nhập vai trực tuyến..., các trò chơi đã xuất hiện cả thập kỷ sẽ dễ dàng bị lãng quên. Tuy nhiên, số người dùng Solitaire vẫn lên đến hàng trăm triệu.
Game lừng danh Windows Solitaire.

Theo blog công nghệ Gizmodo, nhờ được cài sẵn trong máy tính, một số trò chơi như dò mìn Minesweeper, xếp hình Tetris... cũng không khó lôi kéo vài chục triệu người, nhưng duy nhất Solitaire được Microsoft ưu ái gọi là "ứng dụng Windows được dùng nhiều nhất thế giới" vào năm 2004. Với số lượng lớn người dùng Word, Excel, Outlook Express và Internet Explorer mỗi ngày, đây thực sự là danh hiệu đáng ngưỡng mộ của Solitaire.

Nhiều chuyên gia nhận định, trước khi game nông trại trên Facebook trỗi dậy, trò chơi của Microsoft là mối đe dọa lớn nhất tới năng suất làm việc tại các công sở. Nhưng một nghiên cứu khác của Đại học Utrecht (Hà Lan) năm 2003 cho thấy những ai được phép chơi Solitaire trong giờ lại hiệu quả và cảm thấy hứng thú với công việc hơn so với người bị cấm. Game này được ví như một tách cafe vào giờ giải lao giúp nhân viên thư giãn.
Một số phiên bản của Solitaire như Spider Solitaire hay FreeCell.
Còn Microsoft có lý do để đưa Solitaire vào Windows: khiến mọi người thoải mái khi sử dụng máy tính và hệ điều hành. Nguyên nhân này hiện nay không còn quan trọng, nhưng trở lại năm 1990, Windows là một khái niệm tương đối mới với nhiều người, việc di chuyển chuột cũng khá khó khăn và máy tính cá nhân vẫn là thứ xa lạ với những ai trưởng thành trong môi trường của bút chì và máy đánh chữ. Chính sự đơn giản và quen thuộc của Solitaire giúp người sử dụng thấy dễ chịu khi dùng chuột để trỏ (point) và nhấn (click).

Dù là game nổi tiếng nhất thế giới, ít ai biết đến tên tuổi những người làm ra nó. Họ gần như không được thưởng hay vinh danh gì bởi họ là nhân viên của Microsoft và viết mã, thiết kế... được xem là công việc thường ngày của họ.
Klondike do Susan Kare thiết kế.
Phiên bản đầu tiên của Solitaire được đưa vào Windows năm 1990 là Klondike, do Susan Kare thiết kế và người viết những dòng code cho game là Wes Cherry. Ngay khi đang phát triển, Cherry đã dự đoán khả năng trò chơi này sẽ được nhân viên văn phòng yêu thích nhiều nên đã chèn mã "boss key" trong game để khi nhấn nút, bộ bài sẽ biến mất và màn hình hiển thị vài đoạn mã .C (giả vờ như đang làm việc). Tuy nhiên, Microsoft yêu cầu ông gỡ bỏ tính năng này trong phiên bản được đưa vào Windows 3.0.

Windows Solitaire thường xuyên được cập nhật với đồ họa và luật chơi mới theo hệ điều hành. Ví dụ, phiên bản trên Windows 7 và Vista cho phép người chơi lưu (save) game đang chơi dở.
Theo VnExpress

Thứ Năm, 28 tháng 10, 2010

Tìm hiểu về Linux Kernel và những chức năng chính của chúng

Quản Trị Mạng - Với hơn 13 triệu dòng lệnh, Linux kernel là 1 trong những dự án mã nguồn mở rộng lớn nhất trên thế giới, nhưng chính xác chúng là gì và chúng làm gì trong hệ thống?

Kernel là gì?
Khái niệm kernel ở đây nói đến những phần mềm, ứng dụng ở mức thấp (low-level) trong hệ thống, có khả năng thay đổi linh hoạt để phù hợp với phần cứng. Chúng tương tác với tất cả ứng dụng và hoạt động trong chế độ user mode, cho phép các quá trình khác – hay còn gọi là server, nhận thông tin từ các thành phần khác qua inter-process communication (IPC).

Các loại kernel khác nhau

Về bản chất, có nhiều cách để xây dựng cấu trúc và biên dịch 1 bộ kernel nhất định từ đầu. Nhìn chung, với hầu hết các kernel hiện nay, chúng ta có thể chia ra làm 3 loại: monolithic, microkernel, và hybrid. Linux sử dụng kernel monolithic trong khi OS X (XNU) và Windows 7 sử dụng kernel hybrid.

Microkernel:

Microkernel có đầy đủ các tính năng cần thiết để quản lý bộ vi xử lý, bộ nhớ và IPC. Có rất nhiều thứ khác trong máy tính có thể được nhìn thấy, tiếp xúc và quản lý trong chế độ người dùng. Microkernel có tính linh hoạt khá cao, vì vậy bạn không phải lo lắng khi thay đổi 1 thiết bị nào đó, ví dụ như card màn hình, ổ cứng lưu trữ... hoặc thậm chí là cả hệ điều hành. Microkernel với những thông số liên quan footprint rất nhỏ, tương tự với bộ nhớ và dung lượng lưu trữ, chúng còn có tính bảo mật khá cao vì chỉ định rõ ràng những tiến trình nào hoạt động trong chế độ user mode, mà không được cấp quyền như trong chế độ giám sát - supervisor mode.

Ưu điểm:
 - Tính linh hoạt cao
 - Bảo mật
 - Sử dụng ít footprint cài đặt và lưu trữ

Nhược điểm:
 - Phần cứng đôi khi “khó hiểu” hơn thông qua hệ thống driver
 - Phần cứng hoạt động dưới mức hiệu suất thông thường vì các trình điều khiển ở trong chế độ user mode
 - Các tiến trình phải chờ đợi để được nhận thông tin
 - Các tiến trình không thể truy cập tới những ứng dụng khác mà không phải chờ đợi

Monolithic Kernel:

Với Monolithic thì khác, chúng có chức năng bao quát rộng hơn so với microkernel, không chỉ tham gia quản lý bộ vi xử lý, bộ nhớ, IRC, chúng còn can thiệp vào trình điều khiển driver, tính năng điều phối file hệ thống, các giao tiếp qua lại giữa server... Monolithic tốt hơn khi truy cập tới phần cứng và đa tác vụ, bởi vì nếu 1 chương trình muốn thu thập thông tin từ bộ nhớ và các tiến trình khác, chúng cần có quyền truy cập trực tiếp và không phải chờ đợi các tác vụ khác kết thúc. Nhưng đồng thời, chúng cũng là nguyên nhân gây ra sự bất ổn vì nhiều chương trình chạy trong chế độ supervisor mode hơn, chỉ cần 1 sự cố nhỏ cũng khiến cho cả hệ thống mất ổn định.

Ưu điểm:
 - Truy cập trực tiếp đến các phần cứng
 - Dễ dàng xử lý các tín hiệu và liên lạc giữa nhiều thành phần với nhau
 - Nếu được hỗ trợ đầy đủ, hệ thống phần cứng sẽ không cần cài đặt thêm driver cũng như phần mềm khác
 - Quá trình xử lý và tương tác nhanh hơn vì không cần phải chờ đợi

Nhược điểm:
 - Tiêu tốn nhiều footprint cài đặt và lưu trữ
 - Tính bảo mật kém hơn vì tất cả đều hoạt động trong chế độ giám sát - supervisor mode

Hybrid Kernel: 

Khác với 2 loại kernel trên, Hybrid có khả năng chọn lựa và quyết định những ứng dụng nào được phép chạy trong chế độ user hoặc supervisor. Thông thường, những thứ như driver và file hệ thống I/O sẽ hoạt động trong chế độ user mode trong khi IPC và các gói tín hiệu từ server được giữ lại trong chế độ supervisor. Tính năng này thực sự rất có ích vì chúng đảm bảo tính hiệu quả của hệ thống, phân phối và điều chỉnh công việc phù hợp, dễ quản lý.

Ưu điểm:
 - Các nhà phát triển có thể chọn và phân loại những ứng dụng nào sẽ chạy trong chế độ thích hợp
 - Sử dụng ít footprint hơn so với monolithic kernel
 - Có tính linh hoạt và cơ động cao nhất

Nhược điểm:
 - Có thể bị bỏ lại trong quá trình gây treo hệ thống tương tự như với microkernel
 - Các trình điều khiển thiết bị phải được quản lý bởi người dùng

Vậy những file Linux Kernel này ở đâu?

Các file kernel này, trong Ubuntu chúng được lưu trữ tại thư mục /boot và đặt tên theo vmlinuz-version. Khi bộ nhớ ảo bắt đầu được phát triển để thực hiện các tác vụ đa luồng, tiền tố vm sẽ được đặt vào đầu các file kernel để phân biệt khả năng hỗ trợ công nghệ ảo hóa. Kể từ đó, Linux kernel được gọi là vmlinux, nhưng hệ thống kernel này đã phát triển với tốc độ quá nhanh, lớn hơn so với dung lượng bộ nhớ boot chuẩn của hệ điều hành, vì vậy những file kernel này đã được nén theo chuẩn zlib – và ký tự z được thêm vào là do như vậy. Ngoài ra còn 1 số định dạng nén thường gặp khác là LZMA hoặc BZIP2, nhưng chúng vẫn được gọi chung là zImage.

Các phiên bản được sắp xếp thứ tự theo định dạng A.B.C.D, trong đó A.B thường là 2.6, C đại diện cho phiên bản, và D là ký hiệu các bản vá lỗi hoặc patch:
Trong thư mục /boot còn có rất nhiều file quan trọng khác như, initrd.img-version, system.map-version, và config-version. File initrd được dùng như 1 ổ đĩa RAM để giải nén và kích hoạt các file kernel thực sự, còn file system.map được dùng để quản lý bộ nhớ trước khi kernel được tải đầy đủ, và file config làm nhiệm vụ thông báo cho kernel biết những lựa chọn hoặc module nào sẽ được nạp vào quá trình hệ thống khởi động.

Cấu trúc file Linux Kernel
Thực tế, Windows đã có tất cả các trình điều khiển sẵn có và người sử dụng chỉ việc kích hoạt các trình điều khiển tương ứng để sử dụng. Và đó cũng chính là nhiệm vụ các module kernel Linux đảm nhiệm, hay còn được gọi là loadable kernel module (LKM), rất cần thiết để giữ các chức năng đi kèm với toàn bộ hệ thống phần cứng hoạt động mà không ảnh hưởng đến bộ nhớ. 1 module thông thường sẽ gán chức năng cơ bản tới các kernel như điều khiển driver, file hệ thống... LKM có phần đuôi mở rộng là .ko và được lưu trữ trong thư mục /lib/modules, người sử dụng có thể thiết lập thuộc tính tự khởi động, cho phép tải hoặc không trong khi hệ điều hành khởi động, bằng cách dùng lệnh menuconfig, can thiệp vào file /boot/config, hoặc bằng cách sử dụng lệnh modprobe.
Các module của các hãng thứ 3 thường có sẵn trên 1 số distributor, ví dụ như Ubuntu, hoặc không được tích hợp sẵn ở chế độ mặc định. Các nhà phát triển phần mềm (ví dụ nVidia, ATI hoặc các hãng khác), không cung cấp mã nguồn nhưng họ đã tự xây dựng và biên dịch các module cần thiết, sau đó cung cấp cho người sử dụng file .ko. Và tất nhiên, có nhiều module hoàn toàn miễn phí, trong khi một số khác thì không.

Như vậy, các bạn đã có thể hình dung được sự quan trọng của kernel. Kernel của Linux khác hẳn so với Mac OS X và Windows bởi trình điều khiển driver cũng như cách thức quản lý và hỗ trợ khác. Trên đây là 1 số thông tin cơ bản và cần thiết giúp mọi người có thể hiểu được kernel là gì, chúng hoạt động như thế nào và tại sao chúng lại cần thiết như vậy. Chúc các bạn thành công!
T.Anh (theo HowToGeek)

Thứ Ba, 26 tháng 10, 2010

Máy ảo với Virtualbox

Linux giờ đây đã trở thành “bạn” của nhiều người dùng máy tính, bên cạnh Windows. Không khó để thiết lập một máy tính chạy 2 hệ điều hành Windows và Linux, và bạn có thể chọn khởi động vào hệ điều hành mình muốn thật dễ dàng với các tùy chọn lúc khởi động máy. Và khi không muốn làm việc trên hệ điều hành này thì bạn có thể khởi động lại máy và chọn một hệ điều hành khác.

Nhưng thiết lập này có bất tiện vì người dùng không thể chuyển qua lại tức thời giữa 2 hệ điều hành trong một số trường hợp cần thiết. Điều này có thể làm được nếu trên hệ điều hành bạn đang dùng có cài máy ảo, và trong máy ảo đó bạn cài hệ điều hành còn lại. Tuy nhiên theo cách thông thường, bạn chỉ có thể chạy hệ điều hành “ảo” trong phạm vi cửa sổ của máy ảo mà thôi, chứ không thể đặt ứng dụng của hệ điều hành này bên cạnh ứng dụng của hệ điều hành kia được. Giờ đây, với chế độ “Seamless” của máy ảo VirtualBox, bạn hoàn toàn có thể làm được điều này.

VirtualBox (VB) hoạt động giống hệt như sản phẩm máy ảo nổi tiếng VMware, tuy nhiên VB là phần mềm miễn phí, mã nguồn mở (vốn của hãng InnoTek và hiện đã được Sun Microsytems mua lại) và chạy “nhẹ nhàng” hơn. Cách sử dụng VB cũng tương tự như VMware. Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn cài Windows bên trong Linux bằng máy ảo VB và cách thức chạy ứng dụng của Windows bên cạnh các ứng dụng Linux giống hệt như bạn đang chạy cả 2 hệ điều hành cùng một lúc vậy.
Bài viết sử dụng hệ điều hành Ubuntu Linux 7.10, VB 1.5.0 và Windows XP SP2.

Trên Ubuntu, bạn mở Terminal, gõ lệnh:

$ sudo gedit /etc/apt/sources.list

Khi cửa sổ Gedit mở ra, bạn bỏ các dấu comment (#) ở đầu các dòng có chữ “deb”. Sau đó lưu file này lại, tắt Gedit đi, trở lại Terminal và gõ:

$ sudo apt-get update

để cập nhật các kho phần mềm của Ubuntu.

Sau khi quá trình cập nhật xong, bạn cài VB bằng lệnh sau:

$ sudo apt-get install virtualbox-ose virtualbox-ose-modules-generic
Hình ảnh

Mất một lúc để tải về và cài VB (khoảng 30MB). Cài VB xong, bạn thêm tài khoản của mình vào nhóm vboxusers để có quyền sử dụng VB:

$ sudo usermod –G vboxusers tên_đăng_nhập_của_bạn

Và cấp quyền cho /dev/vboxdrv để nó có thể thực thi:

$ sudo chmod 666 /dev/vboxdrv

Bạn đưa đĩa cài Windows XP SP2 vào và chạy VB (Application > System Tools > InnoTek VB).


Cài Windows XP bằng VirtualBox

Hình ảnh
Windows XP khi chưa chạy chế độ Seamless
Hình ảnh
Cửa sổ VB hiện ra. Bạn nhấn New để tạo một máy ảo mới, chọn dung lượng RAM cho máy ảo, nhấn New ở bước tiếp theo để tạo ổ đĩa cho máy ảo, và nhấn Finish để hoàn tất. Các thao tác này rất giống trên VMware nên nếu đã từng dùng VMware chắc chắn bạn sẽ không bỡ ngỡ. Trở lại cửa sổ chính của VB, nhấn vào CD/DVD-ROM, chọn Mount CD/DVD Drive, Host CD/DVD Drive và chọn Enable passthrough. Nhấn Start để bắt đầu cài WinXP như bình thường, cho đến khi hiện ra màn hình desktop của WinXP hoàn chỉnh. Lúc này bạn bỏ đĩa cài WinXP ra, ngay tại cửa sổ đang chạy WinXP, bạn vào Devices, chọn Unmount CD/DVD-ROM và sau đó là Install Guest Additions. VB sẽ tải về và cài một file ISO khoảng 5MB để cài một ổ đĩa ảo trên XP. Nhấp đúp vào ổ đĩa ảo này (có tên là VBOXADDITIONS) để cài công cụ trợ giúp Seamless Mode vào máy. Sau khi đã cài xong, trong menu Machine của cửa sổ đang chạy XP sẽ xuất hiện tùy chọn “Seamless Mode”. Bạn chỉ cần nhấn vào tùy chọn này, hoặc nhấn phím “Ctrl phải + L” là lập tức Windows XP sẽ “chui” ra khỏi cửa sổ VB và giống y như đang chạy thực trên máy vậy! Nếu muốn đưa XP vào trở lại, bạn nhấn lại tổ hợp “Ctrl phải + L”. Khi chạy ở chế độ Seamless, thanh taskbar của XP sẽ nằm trên thanh taskbar của GNOME. Nếu muốn làm cho màn hình đẹp hơn, bạn có thể dời thanh taskbar của Ubuntu sang vị trí khác, hoặc dời các thành phần trong đó lên thanh taskbar ở trên cùng và xóa thanh taskbar bên dưới đi. Tùy ý thích mà bạn có thể làm theo những cách khác nhau giúp desktop của mình trông “thật” hơn.

Những gì đạt được ở trên đối với một số người là quá đủ và khá ấn tượng rồi, tuy nhiên để 2 hệ điều hành “thật” và “ảo” có thể hiểu và liên lạc được với nhau thì bạn cần làm thêm một bước nữa.

Nếu đang chạy Seamless Mode, bạn chuyển XP về lại chế độ cửa sổ bằng tổ hợp phím “Ctrl phải + L”, vào menu Devices, chọn Shared folders và chọn một thư mục trong hệ điều hành Ubuntu, ví dụ, home/abc/Desktop. Vào hệ điều hành XP, bạn mở hộp thoại Run và gõ:


net use x: \\vboxsvr\Desktop
Hình ảnh
Nếu không gặp trở ngại gì thì bạn sẽ thấy một ổ đĩa chia sẻ kí hiệu X nằm trong My Computer.

Bạn mở hộp thoại Run tiếp, gõ regedit để vào Registry Editor của XP. Tiếp theo bạn chuyển đến HKEY_CURRENT_USER > Software > Microsoft > Windows > CurrentVersion > Explorer > User Shell Folders, nhấn đúp vào khóa “Desktop” và đưa vào một giá trị mới là “x:” (không có ngoặc kép). Đóng Registry Editor lại, bạn sẽ thấy sự khác biệt ngay tức thì: tất cả các file bạn để trên desktop của Linux sẽ hiển thị trong Windows XP!

Việc kết nối 2 hệ điều hành đã hoàn tất và bạn có thể tận hưởng những lợi ích mà cả 2 hệ điều hành này mang lại cùng một lúc mà không còn phải chịu những sự bất tiện như trước đây nữa.

Hình ảnh
Windows XP chạy ở chế độ Seamless

Có một số cách khác để chạy các ứng dụng Windows và Linux song song theo kiểu này, nhưng cách dùng VirtualBox có lẽ là cách cho kết quả tốt nhất cho tới thời điểm hiện tại.

Có một phương pháp khác để chạy các ứng dụng Linux trên Windows XP có sẵn, tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi bạn phải sử dụng một bản andLinux tương tự như Ubuntu. Bạn cũng có thể thay XP bằng Vista, tuy nhiên việc nối mạng trong Vista gặp khó khăn trên máy ảo VirtualBox. Nhìn chung những gì đề cập ở trên có thể phần nào kích thích sự tò mò của các bạn, để các bạn có thể tự tìm tòi ra những phương pháp riêng khác cho mình.

Nguồn PCWorld

Lớp giao tiếp cơ sở dữ liệu

Đây là bài của thầy Long Nam
using System;
using System.Collections.Generic;
using System.Text;

//Khai báo thư viện cho các lớp
using System.Data.SqlClient; //SqlConnection,...
using System.Data;//DataSet, DataTable,...

namespace ThuVien
{
class Database
{
//Thuộc tính
SqlConnection sqlconn;
//Contructor khởi tạo
public Database(string svrName, string dbName, bool intergratedMode, string usrName, string pwd)
{
string connStr;
if (intergratedMode == true)
{
//Đăng nhập SQL Server sử dụng Windows Authentication Mode.
connStr = "server=" + svrName + "; database=" + dbName + "; Integrated Security = True";
}
else
{
//Đăng nhập SQL Server sử dụng SQL Server Authentication Mode.
connStr = "server=" + svrName + "; uid=" + usrName + "; pwd=" + pwd + " ;database=" + dbName;
}
//Câu lệnh dùng để thiết lập kết nối đến SQL Server là “server=tên_svr; database = tên_db;
//Integrated Security = True” hay “server=tên_svr; database = tên_db; uid = tên_đăng_nhập;
//pwd = mật_khẩu; database = tên_db”.
sqlconn = new SqlConnection(connStr);
}

public DataTable Execute(string strQuery)
{
//Câu lệnh này tạo mới một đối tượng SqlDataAdapter và
//cung cấp cho nó câu truy vấn cùng với kết nối hiện hành
SqlDataAdapter da = new SqlDataAdapter(strQuery, sqlconn);

//DataSet đại diện cho một danh sách các DataTable (mỗi DataTable là 1 bảng dữ liệu)
DataSet ds = new DataSet();

//Dùng SqlDataAdapter đã tạo ra ở trên thực thi câu lệnh truy vấn đã cung cấp,
//và đưa kết quả trả về và ds
da.Fill(ds);

//Chúng ta chỉ lấy bảng đầu tiên
return ds.Tables[0];
}

public void ExecuteNonQuery(string strquery)
{
//SqlCommand là đối tượng chuyên đảm nhận việc thực hiện các câu lệnh truy vấn
SqlCommand sqlcom = new SqlCommand(strquery, sqlconn);

sqlconn.Open(); //Mở kết nối
sqlcom.ExecuteNonQuery(); //Thực hiện câu lệnh truy vấn đã cung cấp ở trên
sqlconn.Close(); //Đóng kết nối
}

Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010

Các Pub Server dùng để leech tốt nhất chưa từng thấy

Các host dưới đây đều có sẵn account premium nên tốc độ leech rất chi là khủng khiếp

1. Host GET Rapidshare, Megaupload, Megavideo, Netload, Uploading. Riêng RapidShare chỉ hỗ trợ từ 7h đến 15h (GMT +7). Giới hạn 1 link/15 phút, kích thước tối đa: 90Mb, tự động xóa sau 30 phút. Giới hạn 500Mb/30 phút


2. Host leech Megaupload.com, Depositfiles, Hotfile.commediafire.com ( giới hạn dung lượng 50M và tự xóa sau 30', Hạn dùng 28.11.2010 ) TESTED & WORKING
3. Host leech Rapidshare, filefactory.com, depositfiles.com. Tự xóa file sau 2h, giới hạn kích thước: 200M, chỉ được leech 5file / giờ nên các bạn tranh thủ leech những file kích thước lớn. Có thế Fake Ip để leech được nhiều hơn Thỉnh thoảng site này bị lỗi do lượng truy cập quá lớn, các bạn đợi 1' - 2' vào lại hoặc cứ F5 là vào được ( đừng F5 liên tục ). Hoạt động từ 07:00:00 đến 21:00:00TESTED & WORKING Very good
4. Host get MegaUpload. Tự động xóa sau 120 phút, giới hạn 200000Mb / 180 phútTESTED & WORKING Very good
[CODE]

5. Host get Rapidshare FileserveTESTED & WORKING Very good
6. Host leech MegaUpload HotFile. Giới hạn dung lượng: 500Mb tự xóa file sau 24 tiếngTESTED & WORKING Very good
7. Host leech HotFile. Giới hạn: 500Mb tự động xóa sau 12 giờ.TESTED & WORKING Very good
8. Host leech RapidShare MegaUpload. GIới hạn 777Mb, tự xóa sau 1.5 giờ
9. Host multi-leech
10. Host get MegaUpload. Giới hạn 700Mb, 2000Mb/120', tự xóa file sau 120'
11. Host multi-get
12. Host multi-get

Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2010

UEFI sẽ bước đầu thay thế BIOS trong 2011

Phần mềm cơ sở (không biết nói thế có đúng không) được biết đến dưới tên gọi BIOS, sẽ bước đầu “thấy ngày về hưu” của mình vào năm sau. Và rất có thể nó sẽ “cáo chung cuộc đời” trong 2 năm kế tiếp, theo như một trong các nhà sản xuất (NSX) mainboard hàng đầu thế giới, MSI, đã nêu. Mọi sự ra đi đều để lại chút tiếc nuối dù ít ai biết, những người tạo ra BIOS lúc đầu không nghĩ nó sẽ phổ biến đến vậy.




Mark Doran, người đứng đầu diễn đàn UEFI (Unified Extensible Firmware Interface), mô tả :
"BIOS truyền thống với một số mảnh chip vật lý (phần cứng) ngoài kia đã bắt đầu cuộc đời bên cạnh chiếc PC từ 1979"
Những người tạo ra BIOS ban đầu chỉ hy vọng sẽ có khoảng 250.000 cỗ máy sử dụng nó.
"Họ rất ngạc nhiên như bất kỳ ai rằng nó vẫn tiếp tục tồn tại và có mặt trên rất nhiều hệ thống. Nó thực sự chưa từng bao giờ được thiết kế để có khả năng mở rộng về sau này"
1979 – 2010, tồn tại được hơn 30 năm trong một thế giới đầy biến động là một thành tích đáng nể. Hiển nhiên lúc được viết ra, chúng ta chưa có khái niệm về điện toán 64-bit lẫn những thiết bị lưu trữ dung lượng lớn hơn 2 TB, kể cả giao tiếp USB (thiết kế từ 1996). Vậy nên đừng ngạc nhiên khi BIOS bị thay thế. Chỉ đơn giản là nó đã hoàn thành nghĩa vụ của mình (nhưng với một tuổi thọ đáng kể !)
Brian Richardson, thuộc bộ phận marketing kỹ thuật AMI, nói về các giới hạn của BIOS :
"Giới hạn kích thước ổ đĩa là điều có sẵn từ thiết kế chiếc PC đầu tiên – 2 TB – đang trở thành một vấn đề rất lớn khi nhu cầu PC cho phim ảnh ngày càng tăng"

Chip BIOS trên những chiếc IBM PC đầu tiên

Tại lúc BIOS xuất hiện, chưa có giao tiếp USB. Vì thế những thiết bị lưu trữ dùng cổng USB thường được BIOS hiểu là một ổ cứng hoặc một ổ mềm (tuỳ cách giả lập của NSX). Đây là một trở ngại khiến cho việc cài đặt hệ điều hành lên các ổ này trở nên khó khăn. Ngoài ra bàn phím và chuột lúc bấy giờ sử dụng các cổng AT hoặc PS/2, cũng như việc định nghĩa các thiết bị nhập (input) hết sức hạn hẹp.

Ngày nay có nhiều thiết bị như tablet hay UMPC không hỗ trợ các cổng trên nhưng người dùng vẫn có nhu cầu liên kết chúng với chiếc PC. Hãy thử hình dung nếu bàn phím của bạn có vấn đề và chiếc dế QWERTY của bạn có thể gắn với PC thông qua cổng USB : dùng “tạm” con dế như một bàn phím có lẽ không hề tồi. Tất nhiên sẽ có vấn đề bảo mật nhưng đó là chuyện khác.

Doran nói tiếp :
"Có thể nói rằng ở đâu đó trong cỗ máy, có một thiết bị có thể tạo ra các thông tin (phần cứng) tương tự bàn phím"
Bàn phím ảo, màn hình cảm ứng … bất kỳ thiết bị nhập nào hoàn toàn có thể nảy sinh trong trí tưởng tượng của bạn.

Khái niệm EFI (không có Unified) đã xuất hiện lần đầu tiên trong phần cứng của Intel, và được những hệ thống của Apple hỗ trợ. Tuy vậy EFI chỉ tồn tại trên các nền tảng x86 và do vậy, không hỗ trợ các phần cứng khác như của IBM hay Sun (nay thuộc Oracle) hoặc ARM. Các hệ thống trên sử dụng những thứ như Open Firmware hoặc Coreboot với mục đích thay thế BIOS. Vì thế nên đã có hợp nhất (Unified) để thống nhất các chuẩn trên.

Những người quản trị các datacenter với hàng trăm cỗ máy là những người đầu tiên thấy lợi ích của việc thay thế BIOS : họ có thể quản lý từ xa (remote management) mà không cần phải chạy “lòng vòng” vài trăm mét giữa 2 điểm (node) xử lý.

Bên cạnh đó, UEFI sẽ tiết kiệm bớt thời gian khởi động hệ thống. Nhưng không đến mức “chỉ còn vài giây” : quá trình POST (kiểm tra ban đầu) sẽ diễn ra nhanh hơn. Còn thời gian nạp hệ điều hành từ ổ cứng (HDD) vào RAM vẫn không đổi. Tuy vậy giải pháp SSD (sẽ phổ biến hơn về sau này) sẽ khắc phục điều đó.

Theo BBC News

Thứ Sáu, 22 tháng 10, 2010

Bản Windows Xp SP3 Của SoftVNN Version 5.1



Microsoft Windows Xp WinStyle SP3 2010 MOD By SVNN Team

Bản Windows này được tạo bởi đội ngũ Ban Quản Trị SoftVnn.com với mong muốn đem lại cho bạn một bản Windows hoàn hảo, ổn định. Được tạo ra từ đĩa Windows Xp SP3 gốc của MSDN được tích hợp Internet Explorer 8, Windows Media Player 11 và những bản vá mới nhất (được cập nhật đến tháng 05 năm 2010).


  • Hệ điều hành: Windows Xp Sevice Pack 3 x86 (32 bit).
  • Hỗ trợ SATA: Có.
  • Hỗ trợ RAID: Có.
  • Hỗ trợ SCSI: Có.
  • Tự nhận drivers: Không (Drivers gốc của MS).
  • Internet Explorer 8:
  • Windows Media Player 11:
  • Hotfixes: Có (cập nhật đến 05/2010)
  • Update trực tuyến: Được.
  • CD Key: Đã add sẵn.
  • File ảnh: File ISO chuẩn.
  • File download: WinRAR.
  • Số phần được cắt: 10 phần.
Cấu hình cần thiết:
  • Vi xử lý: Intel Celeron 2.0 Ghz (Hoặc cao hơn)
  • Bộ nhớ: 256 MB (Hoặc cao hơn)
  • Card Màn hình: 64 MB (Hoặc cao hơn)
  • Ổ cứng: 4GB trống (Hoặc cao hơn)
Cấu hình đề nghị:
  • Vi xử lý: Intel Pentium4 1.4 Ghz
  • Bộ nhớ: 512 MB
  • Card Màn hình: 128 MB (Card rời càng tốt)
  • Ổ cứng: 10GB trống


File ISO: 685 MB
MD5 Check:
ISO file: 40993586E8694C3DAB34A0D8B5BFB7DF
Part 01: 21C57925334E6B2F5D8E42C1848DFF81
Part 02: 8BD1F436C5093A4EF1F632B46031DC25
Part 03: 3520C73FDA3B6735AE2378474A0FF3F2
Part 04: 61EC25918F17A394A95987C32DAF4FB2
Part 05: 42982AFAF42E8E51827D9ACAD4AFC204
Part 06: 149C6C92587842AA7E5487DB7B4ED73E
Part 07: 2E4F587686E2B54BCE7995379325B0C1
Part 08: B1DEFC40153005939B9D46C283FFAB6D
Part 09: 5A958F2BEE58B0EF80C4598A35BF41D2
Part 10: 78AE0FA27C5CB2995D5CBE02C6232B06







Màn hình Desktop:



Màn hình Logon:



Một số hình ảnh về giao diện:










Burn file ISO ra đĩa CD để cài đặt, không hỗ trợ cài đặt từ ổ cứng


Chú ý:
Khi cài đặt Windows, Có thể Keyboard và Mouse USB sẽ không sử dụng được (Not Detected) lúc này:

Reset máy lại cho Windows bắt đầu lại tiến trình, lỗi sẽ được fix. Điều này không ảnh hưởng gì đến quá trình cài đặt và sử dụng sau này.
Lỗi là do xung đột giữa driver của Windows và Driver Pack được add thêm vào.

Bài đăng phổ biến