Thứ Năm, 29 tháng 9, 2011

Phân biệt toán tử == và phương thức equal() trong Java.

Hôm nay mình gặp vấn đề vô cùng thú vị. Là dân .NET, mới làm quen Java, và thử chạy chương trình hơn 1 ngày, cuối cùng tìm ra lỗi vô cùng đơn giản, so sánh chuỗi sai.
C#: Bạn có thể dễ dàng so sánh 2 chuỗi giống nhau bằng câu lệnh s1==s2 nhưng trong Java, bạn luôn nhận về kết quả false. Tại sao như vậy?
VD1:
String a = new String(“abc”);
String b = new String(“abc”);
System.out.println(“a==b ? ”+ (a==b));// kết quả: a==b?false
System.out.println(“a.equals(b)?” + a.equals(b));// kết quả e.quals(b)?true
Trong JAVA, có 2 kiểu biến: biến tham trị và tham chiếu.
Biến kiểu tham trị bao gồm các kiểu nguyên thủy của JAVA như: int, long, double…
Biến kiểu tham chiếu bao gồm: String, array, kiểu đối tượng…
Khi sử dụng biến kiểu tham trị, JAVA chỉ cho phép bạn sử dụng toán tử so sánh “==”.
Khi sử dụng biến kiểu tham chiếu, JAVA cho phép sử dụng cả toán tử “==” và equals(). Tuy nhiên, khi sử dụng toán tử “==”, bộ xử lý của JAVA sẽ so sánh xem 2 biến tham chiếu này có trỏ đến cùng một đối tượng hay không, còn nếu bạn sử dụng phương thức equals(), bộ xử lý JAVA sẽ so sánh giá trị của 2 biến tham chiếu đó. Điều này lý giải tại sao ở ví dụ trên, khi sử dụng phép toán: a.equals(b) => kết quả trả về bằng true, trong khi a==b => kết quả trả về lại bằng false.
Để hiểu hơn, tôi xét thêm một ví dụ nữa:
String a = new String(“abc”);
String b = a;
System.out.println(“a==b ? ”+ (a==b));// kết quả: a==b?true
System.out.println(“a.equals(b)?” + a.equals(b));// kết quả e.quals(b)?true
Nếu bạn có thắc mắc gì hãy để lại comment. Hy vọng các bạn có được một kiến thức bổ ích.
Tham khảo và chỉnh sửa.

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

7 CEO sáng tạo nhất nước Mỹ

Họ được cả thế giới mến mộ về sự sáng tạo, khả năng điều hành trong nhiều bối cảnh kinh tế và quan trọng hơn đó là khả năng chiếm lĩnh thị phần từ tay đối thủ.
Nếu tính theo những tiêu chí trên, có rất nhiều CEO đã không lọt vào danh sách này dù họ cũng nổi tiếng không kém.
Có thể Exxon Mobil có thể là công ty dầu mỏ lớn nhất và đạt lợi nhuận lớn nhất trên thế giới, nhưng CEO Rex Tillerson của tập đoàn này đã không phải là người thực hiện vụ sáp nhập giúp Exxon Mobil trở thành tập đoàn khổng lồ và cũng không phải là người đi tiên phong trong lĩnh vực tìm kiếm dầu thô hay những tiến bộ trong khai khoáng.
Intel vẫn tiếp tục tạo ra những đột phá trong lĩnh vực kinh doanh chip điện tử, nhưng CEO Paul Otellini của công ty này chỉ là người dựa trên những thành công của những nhà sáng lập Intel - những người đã gây dựng ngành công nghiệp chip và tiến hành những đổi mới tại Intel. Amgen là công ty về công nghệ sinh học lớn nhất và thành công nhất thế giới. Nhưng CEO Kevin Sharer của công ty này không phải là người đưa ra những phát minh trong phòng thí nghiệm của công ty.
Tờ 24/7 Wall Street đã tiến hành nghiên cứu những tập đoàn thành công nhất nước Mỹ, về cả tăng trưởng doanh thu và giá cổ phiếu. Từ đó đưa ra danh sách những công ty với động lực thành công chính là nhờ CEO.

1. Netflix: CEO Reed Hastings

Hiện CEO của tập đoàn kinh doanh nội dung số Netflix mới 50 tuổi.
Hiện CEO của tập đoàn kinh doanh nội dung số Netflix mới 50 tuổi.
CEO của tập đoàn kinh doanh nội dung số Netflix mới 50 tuổi. Ông là nhà đồng sáng lập Netflix năm 1998. Mục tiêu đầu tiên của Netflix là công ty cho thuê băng đĩa có lợi nhuận khổng lồ Blockbuster. Khi Netflix được thành lập, doanh thu của Blockbuster là trên 5 tỷ USD với gần 6.000 cửa hàng. Khi đó, Hastings tin rằng khách hàng sẽ cảm thấy rất tiện lợi và thoải mái nếu như họ có thể nhận được đĩa DVD tại nhà. Và ông đã đúng. Giờ đây, khi Blockbuster phá sản thì Netflix lại có trên 200 triệu khách hàng.
Nhưng sự sáng tạo của Hastings không chỉ dừng ở đó. Năm 2004-2005, khi công nghệ băng thông rộng phát triển rộng rãi, Netflix đã ứng dụng công nghệ này để cung cấp dịch vụ cho phép khách hàng có thể truyền tải nhiều nội dung từ các máy chủ của Netflix đến máy tính cá nhân của họ. Hai năm sau đó, dịch vụ này đã được nâng cấp, cho phép nhưng bộ phim hay chương trình được truyền thẳng tới TV.
Hastings cũng tiến hành các thỏa thuận để được cấp phép về nội dung trực tiếp từ các studio, điều này là mối đe dọa lớn đối với truyền hình cáp hay các doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ cáp quang tại nhà. Chỉ trong 13 năm, Hastings đã thay đổi cả hệ thống vận chuyển và cho thuê video và các mô hình cơ sở hạ tầng cho phép truy cập những nội dung cao cấp. Trong 5 năm, cổ phiếu của Netflix đã tăng 100%, tốc độ tăng trưởng thậm chí còn lớn hơn của Apple.

2. Ford: CEO Alan Mulally

Năm 2006, Alan Mulally trở thành CEO của tập đoàn Ford, tiếp bước người tiền nhiệm William Clay Ford Jr.
Năm 2006, Alan Mulally trở thành CEO của tập đoàn Ford, tiếp bước người tiền nhiệm William Clay Ford Jr.
Năm 2006 Alan Mulally trở thành CEO của Tập đoàn Ford, tiếp bước người tiền nhiệm William Clay Ford Jr. Đóng góp đầu tiên của Mulally cho ngành công nghiệp xe hơi thế giới đó là chứng tỏ một điều rằng một người ngoại đạo cũng có thể điều hành công ty ô tô tốt hơn những người đã từng làm việc trong ngành công nghiệp này nhiều thập kỷ. Thậm chí CEO mới của General Motors (GM) hiện nay cũng là một người mới bước vào ngành công nghiệp này. Mulally đã chứng tỏ ông là một nhà lãnh đạo tài năng.
Đóng góp lớn nhất của ông là đã đưa Ford vượt qua cuộc khủng hoảng khiến hàng loạt các công ty ôtô đi đến bờ vực phá sản. Ông đã làm được điều đó bằng cách đưa công ty vào hoạt động như một ngân hàng đầu tư, hành động chưa hề có tiền lệ. Mulally đã giúp tăng năng lực cho vay của Ford lên 23 tỷ USD ngay trước cơn suy thoái kinh tế. Mulally cũng đã có những động thái hỗ trợ 2 đối thủ chính của mình là GM và Chrysler. Bởi ông biết rằng nếu một trong 2 tập đoàn này sụp đổ thì Ford cũng sẽ chịu những tác động không nhỏ trong bối cảnh kinh tế lúc ấy.
Mulally cũng khuyến khích các kỹ sư của mình nhìn động cơ ôtô dưới nhiều góc độ khác nhau. Các kỹ sư của Ford đã sáng tạo ra công nghệ mới cho phép động cơ 4 xi lanh có được sức mạnh của động cơ 6 xi lanh và động cơ 6 xi lanh có sức mạnh của động cơ 8 xi lanh. Điều này có thể trở thành hiện thực mà không cần đến công nghệ hybrid hay diesel. Động cơ EconoBoost đã ra đời, và từ năm 2007 đã trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho các sản phẩm của công ty.

3. Amazon: CEO Jeff Bezos

Jeff Bezos là nhà sáng lập và cũng CEO của Amazon – công ty bán lẻ qua mạng.
Jeff Bezos là nhà sáng lập và cũng CEO của Amazon - công ty bán lẻ qua mạng.
Jeff Bezos là nhà sáng lập và cũng CEO của Amazon - công ty bán lẻ qua mạng. Năm 1994, thương mại điện tử còn là một lĩnh vực hết sức mới mẻ. Bezos cũng không đặt lợi nhuận lên trên hết. Ngay khi Amazon được thành lập ông đã xác định sẽ phải chịu lỗ trong 3-4 năm. Bezos cũng biết rằng cần mất nhiều thời gian để Amazon có thể đạt được mức doanh thu lớn để duy trì mô hình hoạt động dài hạn.
Sau đó, Bezos nhận thấy rằng Amazon có thể bán được nhiều sách hơn cho lượng khách hàng đang ngày càng lớn của mình. Thay vì bán những sản phẩm mình không hiểu rõ, ông cho nhiều công ty tiếp thị sản phẩm và dịch vụ của họ dựa trên cơ sở hạ tầng của Amazon. Cuối cùng Amazon tạo ra những công ty của chính mình để tiếp thị hàng hóa và dịch vụ, từ những sản phẩm làm đẹp, đồ nội thất cho đến đồ điện tử. Trong mỗi mảng, Bezos đều kiếm thêm doanh thu cho Amazon bằng cách cạnh tranh với mô hình cửa hàng truyền thống của các công ty đối thủ như Best Buy.
Phát minh lớn nhất của Amazon là thiết bị đọc sách điện tử Kindle. Những thiết bị điện tử và phát minh thiết bị đọc sách điện tử của Amazon đã khiến cho sách giấy trở nên ít cần thiết. Khách hàng có thể tải hàng nghìn quyển sách và mang theo mình với các thiết bị này. Mặc dù Amazon không tiết lộ doanh thu bán Kindle, nhưng giới phân tích dự đoán con số này là rất lớn và số lượng máy Kindle được bán ra sẽ còn tiếp tục tăng.

4. Berkshire Hathaway: CEO Warren Buffett

Buffett đã sáng lập quỹ đầu tư lớn nhất trên thế giới, và là người duy nhất đưa ra các quyết định đầu tư.
Buffett đã sáng lập quỹ đầu tư lớn nhất trên thế giới, và là người duy nhất đưa ra các quyết định đầu tư.
Buffett đã sáng lập quỹ đầu tư lớn nhất trên thế giới, và là người duy nhất đưa ra các quyết định đầu tư. Được mệnh danh là “nhà thông thái vùng Omaha”, Buffet đã mua đứt một số công ty, và mua một số lượng lớn cổ phiếu của một số công ty khác. Đối với một số khác nữa thì ông cho vay nợ dưới dạng trái phiếu.
Hiện Buffett đang sỡ hữu một trong những công ty đường sắt lớn nhất thế giới, Burlington Northern - công ty mà ông đã tiến hành tư nhân hóa 2 năm trước. Hiện ông cũng kiểm soát một số công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm, trong đó có Geico và General Re. Ông cũng có cổ phần trong nhiều công ty của Mỹ và ông có thể bán chúng khi thấy đã lãi hoặc lỗ đủ mà không cần phải thông báo. Những công ty này bao gồm Coca Cola, American Express, CostCo, Bank of America, GE, MasterCard, và Walmart.
Buffett có thể nhanh chóng có được một vị trí trong những công ty đang gặp khó khăn, giống như trường hợp của Goldman Sachs hay Bank of America. Tài năng thiên phú của Buffet đó chính là đầu tư, nhưng đóng góp mang tính cách mạng của ông chính là tạo nên tập đoàn tư nhân do một người điều hành lớn nhất thế giới và hoạt động một cách hoàn hảo.

5. Facebook: CEO Mark Zuckerburg

Hiện nay Zuckerburg, người sáng lập ra mạng Facebook mới 27 tuổi.
Hiện nay Zuckerburg, người sáng lập ra mạng Facebook mới 27 tuổi.
Hiện nay Zuckerburg 27 tuổi. Khi mới 20, anh đã sáng lập mạng xã hội lớn nhất thế giới - Facebook với hơn 700 triệu thành viên và hầu hết các nhà phân tích cho rằng công ty này trị giá gần 100 triệu USD. Doanh thu năm 2010 của Facebook là gần 2 tỷ USD.
Đóng góp lớn nhất của Zuckerburg chính là hiểu được mong muốn được giao tiếp trực tuyến của cư dân toàn cầu. Người ta muốn được nhìn thấy bạn bè và người thân của mình hơn là các tin tức hay là kết quả tìm kiếm.
Zuckerburg đã phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt khi anh gia nhập vào thế giới kinh doanh mạng xã hội. Khi đó, MySpace là mạng xã hội lớn nhất thế giới. Nó thuộc sở hữu của công ty truyền thông lớn nhất thế giới - News Corp của Rupert Murdoch. Những điều anh đã làm được là một điều kỳ diệu. Trường hợp của anh cũng giống như Steve Jobs, người đã thiết kế và tiếp thị sản phẩm tốt hơn những sản phẩm cạnh tranh tương tự hiện có. Lý giải cho điều này là Facebook được sử dụng nhiều bởi những người trẻ ngay từ những ngày đầu thành lập. Mà những người trẻ có xu hướng sử dụng Internet nhiều hơn thế hệ già.
Zuckerburg cũng có khả năng làm được 2 điều khó nữa. Anh đã khiến cho người sử dụng Facebook chấp nhận sự thiếu riêng tư, đổi lại bằng việc sử dụng miễn phí mạng xã hội này. Và anh cũng đã biến Facebook trở thành một trang quảng cáo lớn nhất nước Mỹ bằng việc thuyết phục những nhà tiếp thị về một mạng xã hội thân thiện.

6. McDonald: CEO Jim Skinner

Skinner là CEO của McDonald kể từ năm 2004.
Skinner là CEO của McDonald kể từ năm 2004.
Skinner là CEO của McDonald kể từ năm 2004. Ông gia nhập vào chuỗi hàng ăn nhanh lớn nhất thế giới này từ năm 1971 với cương vị là một nhân viên quản trị. Sự phát triển của McDonald ngày càng mạnh kể từ khi Skinner trở thành giám đốc điều hành. Giá cổ phiếu năm 2005 của McDonald còn thấp hơn mức giá năm 1999. Trong 3 thập kỷ trước đó, từ 1974 đến 1998, giá cổ phiếu của công ty này đã tăng từ mức một USD lên 45 USD.
Skinner đã phải đối mặt với hàng loạt các đối thủ chưa từng có trước đây. Burger King đã giành thị phần về mảng kinh doanh hamburger truyền thống. Mảng kinh doanh của Pizza cũng nhanh chóng phát triển và cung cấp dịch vụ chuyển phát tận nhà. Từ những năm đầu thế kỷ 21, tàu điện ngầm đã trở thành địa bàn chính của đồ ăn nhanh. Một số chuỗi hàng ăn của Mexico cũng nhanh chóng phát triển. Và các đối thủ chính như KFC hay Dunkin Donuts cũng phát triển mạnh mẽ.
Khi đó, Skinner đã đưa ra 2 quyết định lớn. Đầu tiên là đưa bữa sáng trở thành bữa ăn chính cho khách hàng của McDonald. Thay vì bữa trưa và bữa tối như trước đó. McDonald đã đưa ra thực đơn phong phú cho bữa sáng và bán loại cà phê cao cấp với giá rẻ. Công ty này cũng bắt đầu mở cửa nhiều cửa hàng của mình suốt đêm để mọi người có thể ăn cả những bữa ăn đêm lẫn những bữa sáng sớm.
Thứ 2, Skinner xác định Trung Quốc là địa điểm vàng cho tăng trưởng của công ty, và thực đơn Mỹ của McDonald vẫn được thể thâm nhập được vào thị trường này. Thay vì bán đồ ăn Trung Quốc trong các cửa hàng của mình, McDonald bán hamburger và đồ rán. Hiện nay, Trung Quốc là một trong 3 thị trường trọng điểm của McDonald, bên cạnh Mỹ và châu Âu.

7. Twitter: CEO Jack Dorsey

Jack Dorsey thành lập Twitter năm 2006, ngay khi lĩnh vực mạng xã hội phát triển mạnh mẽ.
Jack Dorsey thành lập Twitter năm 2006, ngay khi lĩnh vực mạng xã hội phát triển mạnh mẽ.
Jack Dorsey thành lập Twitter năm 2006, ngay khi lĩnh vực mạng xã hội phát triển mạnh mẽ. Việc cho phép mọi người kết nối với bạn bè và người thân trên toàn thế giới không có gì là mới. Nhưng đóng góp mang tính cách mạng của Twitter đó là cho phép người ta nói chuyện với nhau bằng lời. Twitter đã xây dựng một mạng xã hội với trên 200 triệu thành viên với những quyết định marketing khôn ngoan. Nó khuyến khích các chính trị gia và người nổi tiếng gia nhập Twitter. Đổi lại, họ có thể giao tiếp trực tiếp với hàng triệu người, thậm trí cả việc bầu chọn và bán vé xem phim.
Giao tiếp qua thư mất rất nhiều thời gian, qua điện thoại cũng lâu và tốn kém, còn email thì không trực tiếp. Twitter đã thay đổi tất cả những điều đó. Mọi người có thể giao tiếp với nhau một cách trực tiếp và học được cách để giao tiếp một cách ngắn gọn. Họ có thể sử dụng những thông điệp ngắn gọn này để giao tiếp với nhiều người hơn bao giờ hết.
Tuyến Nguyễn (theo Wall Street Journal)

Những bí mật thú vị về email

Ngày nay, email là một trong những khái niệm quen thuộc và không thể thiếu với người dùng Internet. Nhưng bạn biết gì về lịch sử ra đời và phát triển của email? Cùng khám phá trong bài viết dưới đây.

40 năm trước, bức thư điện tử (Electronic Mail - Email) đầu tiên được gửi đi, đánh dấu sự ra đời của một trong những khái niệm quan trọng nhất của tương lai. 

Trải qua 40 năm tồn tại và phát triển, email đã có nhiều bước thăng trầm, để trở thành công cụ giao tiếp phổ biến và rộng rãi nhất thế giới ngày nay. 

Cùng khám phá những bí mật thú vị về quá trình phát triển của email trong bài viết dưới đây.

- 1971, Ray Tomlinson, kỹ sư máy tính người Mỹ, người được xem là “cha đẻ” của email, đã gửi đi bức thư điện tử đầu tiên trong lịch sử trên hệ thống mạng ARPANET (tiền thân của mạng Internet), với nội dung: “QWERTYUIOP” (toàn bộ chuỗi ký tự trên dòng đầu tiên của bàn phím), giữa 2 máy tính được đặt sát cạnh nhau.

Ray Tomlinson, “cha đẻ” của thư điện tử

Đặc biệt, Tomlinson đã sử dụng ký tự “@” để phân cách giữa tên người dùng và tên của máy tính. Từ đó, ký tự “@” được sử dụng trong các địa chỉ email, để phân cách giữa tên sử dụng và tên miền của dịch vụ email.

- Năm 1976, nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị (Anh) là nguyên thủ quốc gia đầu tiên trên thế giới sử dụng email. 

- Năm 1978, bức email có nội dung quảng cáo đầu tiên trên thế giới được gửi đi, thông qua các hệ thống mạng của chính phủ và của các trường đại học.

- Năm 1982, từ “email” (viết tắt của Electronic Mail - Thư điện tử) lần đầu tiên được sử dụng.

Cũng trong năm này, biểu tượng :-), biểu tượng mặt cười đầu tiên và cũng phổ biến nhất hiện nay được tạo ra bởi Scott Fahlman, một giáo sư máy tính của trường đại học Carnegie Mellon.

Scott Fahlman, người tạo ra biểu tượng mặt cười đầu tiên trên thế giới

- Năm 1997, khi email bắt đầu dần trở thành một dịch vụ quen thuộc của người sử dụng, “gã khổng lồ” Microsoft đã nhìn thấy một tương lai tươi sáng của email, nên bỏ ra số tiền 400 triệu USD để mua lại dịch vụ cung cấp email HotMail.

Cũng trong năm này, Microsoft cho ra mắt phần mềm quản lý email Microsoft Outlook.

Tháng 10/1997, Yahoo! trình làng dịch vụ email của riêng mình và nhanh chóng trở thành một trong những dịch vụ email lớn nhất thế giới.

- Năm 1998, hãng phim Warner Bros sản xuất bộ phim “You've Got Mail” (Bạn có thư), với nội dung xoay quanh chuyện tình của 2 người làm quen với nhau thông qua email, với sự tham gia diễn xuất của nam diễn viên nổi tiếng Tom Hanks. 

Bộ phim “You've Got Mail” với sự tham gia diễn xuất của nam diễn viên Tom Hanks

Bộ phim đã gặt hại được rất nhiều thành công và mang về cho Warner Bros số tiền 250 triệu USD, kỷ lục dành cho một bộ phim vào thời điểm bấy giờ.

Cũng trong năm này, từ “Spam” (thư rác) cũng được đưa vào trong từ điển tiếng Anh Oxford, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của email.

- Năm 1999, một bức email lừa đảo, với nội dung cho biết Bill Gates (người giàu nhất thế giới thời điểm bấy giờ), dự tính sẽ chia sẻ toàn bộ gia tài của mình cho người dùng Internet. Bức email này ngay lập tức được lan truyền đến hàng triệu người sử dụng Internet.

- Năm 2003, tổng thống Mỹ George Bush đã ký vào đạo luật đầu tiên về giới hạn việc sử dụng email cho các dịch vụ thương mại và quảng cáo để ngăn chặn nạn Spam thư rác.

- Năm 2004, các từ viết tắt như LOL (cười sảng khoái) và nhiều từ viết tắt khác thường được sử dụng trong email được đưa vào từ điển tiếng Anh Oxford.
21/3/2004, Google lần đầu tiên thử nghiệm dịch vụ email Gmail của mình dưới dạng Beta. Chỉ những ai được mời mới có thể tham gia thử nghiệm dịch vụ này, và mỗi tài khoản Gmail lại được cung cấp  tối đa 50 thư mời đến những người dùng khác. Hiện nay, trong tài khoản Gmail vẫn còn giữ lại chức năng gửi thư mời để tham gia Gmail.

Gmail ra đời và nhanh chóng trở thành dịch vụ email hàng đầu

Đến năm 2007, Gmail mới chính thức bỏ mác “beta” để trở thành dịch vụ email mở cửa cho tất cả mọi người tham gia.

Giờ đây, Gmail đang là dịch vụ email có lượng người dùng lớn nhất trên thế giới.

- Năm 2008, Barack Obama (khi đó là ứng cử viên tổng thống) đã thu thập được 13 triệu địa chỉ email của người dùng tại Mỹ. Obama đã sử dụng các địa chỉ email thu thập được, cũng như các dịch vụ mạng xã hội nổi tiếng thời bấy giờ như MySpace hay Youtube để kêu gọi sự ủng hộ của người dân Mỹ.

- Ngày nay, email trở thành một phần không thể thiếu của người dùng Internet. Tất cả mọi thông tin, mọi cập nhật… đều được gửi đi một cách nhanh chóng qua email.

Email đã trở thành một công cụ giao tiếp không thể thiếu ngày nay

Có thể nói, email là một trong những phát minh có tầm ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc sống hiện đại mà công nghệ đã từng tạo ra.

Phạm Thế Quang Huy

Trigger trong SQL Server


Trigger trong SQL Server from anbinhtrong on Vimeo.

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011

Bên trong những trung tâm máy chủ lớn nhất hành tinh

Hệ thống máy chủ được coi là “trái tim” của hầu hết các khu công nghệ cao trên thế giới. Đối với những doanh nghiệp nhỏ, máy chủ có thể chỉ là một hoặc nhiều PC cấu hình mạnh. Nhưng tổ chức càng lớn, yêu cầu về hệ thống máy chủ lại càng cao. Thực tế, trên thế giới có những trung tâm rộng hàng nghìn mét vuông, bao gồm hàng chục, thậm chí hàng trăm nghìn máy chủ bên trong. Những trung tâm như vậy có “dung lượng” nhiều petabyte (một petabyte bằng một triệu tỷ byte).
Trung tâm Microsoft Quincy Washington
Microsoft Quincy Washington là trung tâm dữ liệu rộng 153.000 mét vuông của Microsoft, được xây dựng trên cánh đồng đậu ở Quincy, bang Washington năm 2006. Lúc đầu, khi mới xây dựng xong, nhiều doanh nghiệp đã nghi ngờ về khả năng lưu trữ của trung tâm. Nhưng thực chất họ đã nhầm: Mỗi máy chủ tại đây có thể chứa được 6750 tỉ tấm ảnh. Ước tính, tổng lượng điện Microsoft Quincy Washington tiêu thụ hàng năm còn lớn lượng tiêu thụ của cả Thụy Điển.
Trung tâm NJ2
Đặt tại Weehawken và sử dụng các ứng dụng phần mềm hết sức quy mô, nơi đây chứa đựng máy chủ của hàng triệu khách hàng. Để đảm bảo an toàn, mỗi máy chủ của người dùng trong trung tâm này đều được bảo vệ bởi một lồng sắt rất chắc chắn.
Hệ thống máy chủ tại NJ2 rất hiện đại, có kích cỡ lớn nhưng lại ngốn khá ít năng lượng. Đó là do kết quả của quá trình đổi mới trong thiết kế và hình thức của đội ngũ kĩ thuật viên tại đây.
Trung tâm IBM
Hệ thống máy chủ của IBM có tổng diện tích lên tới tám triệu feet vuông và được gọi là trung tâm “dữ liệu xanh”. Sở dĩ gọi như vậy bởi các kĩ sư IBM đã cải tiến khá nhiều trong khâu thiết bị. Sử dụng các sản phẩm tốn ít năng lượng, ước tính trung tâm của họ sẽ tiết kiệm hơn năm tỷ kWh điện mỗi năm.
Trung tâm Tokyo
Rộng nhất thế giới với diện tích 427.000 mét vuông, trung tâm dữ liệu Tokyo thực sự rất ấn tượng. Được thiết kế hình ống với hầu hết diện tích dùng để chứa các khung, kệ và máy chủ trong đó. Dưới sự bảo trợ của công ty Tokyo Electric Power, trung tâm này đi vào hoạt động từ tháng 6/2000.
Trung tâm HDS Yokohama
Mới đi vào hoạt động từ tháng 4/2008, trung tâm HDS (một chi nhánh của công ty Hitachi) hoạt động dựa trên tiêu chí thân thiện với môi trường và “đậm chất nghệ thuật”. Tọa lạc tại Yokohama, Nhật Bản, HDS là tập hợp tất cả những ý tưởng sáng tạo của tập đoàn công nghệ nổi tiếng này.
Trung tâm dữ liệu của Microsoft tại Chicago
Vừa hoạt động vừa phát triển từ cuối năm 2009, ban đầu, cơ sở này chỉ hoạt động ở tầng trệt với hệ thống các máy chủ được phân bố đồng đều trong 56 container. Mỗi container chứa 18.00 đến 2.500 sever hỗ trợ chạy ứng dụng và email. Tầng trên gồm 4 phòng máy chủ, mỗi phòng hơn 1.000 mét vuông, tính ra tổng diện tích trung tâm lên tới 65.000 mét vuông.
Trung tâm San Diego
Trung tâm này mang đậm tính “công nghệ cao” bởi sự điều khiển của hệ thống robot. Nhờ vậy, chi phí năng lượng được giảm xuống tối đa. Bên trong trung tâm, hệ thống làm lạnh được thiết kế thông minh: bơm hơi lạnh qua những lỗ thông hơi trên sàn nhà, vừa đảm bảo làm mát cho máy chủ, vừa khiến cho nhân viên cảm thấy thoải mái.
Tổng hợp
genk.vn

10 vụ scandal kiểu "che đậy" bê bối nhất lịch sử ngành công nghệ cao

Như bất cứ ngành nghề kinh doanh nào khác, ngành thương mại công nghệ cao tiềm tàng rất nhiều rủi ro khôn lường.
Khi xảy ra sự cố, nhiều hãng đã lấp liếm và giữ im lặng tuyệt đối trong khi họ loay hoay tìm phương án khắc phục. Cách xử lý kiểu che đậy này luôn khiến cho người dùng và các đối tác khác phải chịu hậu quả hết sức nghiêm trọng. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn 10 vụ bê bối lớn nhất trong vòng 20 năm qua.

1. Intel: Sai lầm từ một phép chia đơn giản (1994)

Vào tháng 10/1994, giáo sư toán học Thomas Nicely thuộc trường đại học Lynchburg gửi cho Intel kết quả nghiên cứu của mình về các sai sót trong khâu sản xuất chip Pentium 4. Ngay sau khi xác minh được tính chính xác của kết quả nghiên cứu trên, Intel đã lặng lẽ thay thế tất cả các con chip bị lỗi đồng thời che đậy khiếm khuyết của mình và cho rằng công chúng sẽ không thể biết được.
Tuy nhiên họ đã sai, ba tuần sau đó sự cố này đã có trên tất cả các mặt báo quốc tế. Intel bị chỉ trích rất nặng nề và buộc phải thu hồi toàn bộ số chip lỗi trên thị trường. Tệ hơn nữa, giáo sư Nicely đã tiết lộ rằng ông đã thông báo về nghi vấn của mình với Intel từ 6 tháng trước đó nhưng Intel đã không ngó ngàng tới.
Sai lầm này đã khiến Intel mất uy tín nghiêm trọng và tổn thất tới 475 triệu USD. Liên quan đến sai sót cơ bản của bộ vi xử lý, dư luận đã chế giễu Intel không thể cho ra một kết quả đúng cho một phép chia đơn giản.

2. Iomega: Cú nhấp chuột chết chóc (1998)

Trước khi thiết bị lưu trữ giao tiếp cổng USB ra đời, một trong những thiết bị lưu trữ hiệu quả và phổ biến là Iomega Zip với dung lượng lưu trữ 100MB (lớn hơn rất nhiều so với đĩa mềm). Tuy nhiên vì một số sai sót ở khâu sản xuất mà đĩa Zip đã bị lệch một đầu khiến cho người sử dụng nghe thấy một số âm thanh lạ khi nhấp chuột vào ổ đĩa. Việc này khiến cho đĩa Zip giảm tuổi thọ đáng kể và đã có rất nhiều người bị mất dữ liệu vì đĩa Zip đột ngột hỏng.
Đứng trước hàng nghìn đơn thư khiếu nại về sự cố đĩa Zip đột ngột hỏng, Iomega đã dẫn ra rất nhiều lý do để thoái thác trách nhiệm và thậm chí là đổ tại cho một đối tác thứ ba. Cuối cùng thì người tiêu dùng đã thắng, Iomega phải thu hồi và thay thế toàn bộ các đĩa Zip đã bán ra thị trường. Thuật ngữ "click of death" - "cú nhấp chuột chết chóc" bắt đầu phổ biến từ đó.

3. Sony: Những chú rootkit thân thiện (2005)

Vào năm 2005, các chuyên gia của Sony đã cho ra một sáng kiến mới để bảo vệ bản quyền cho các CD ca nhạc của mình. Họ đã âm thầm đính kèm rootkit vào CD với mục đích can thiệp vào máy tính người dùng để vô hiệu khả năng sao chép, khi người dùng mở CD ra để nghe nhạc lập tức phần mềm này sẽ tự động cài đặt và xâm nhập vào máy tính. Việc này đã gián tiếp tạo một lỗ hổng nghiêm trọng cho malware phá hoại và ăn cắp dữ liệu.
Ngày 31/10/2005, kỹ thuật viên Mark Russinovich đã phát hiện ra và lập tức công bố nghiên cứu của mình lên website Sysinternals, ông khẳng định Sony quá liều lĩnh khi can thiệp vào quyền riêng tư cá nhân của người dùng. Ngay sau đó một loạt các hãng bảo mật vào cuộc và có chung kết luận là "phần mềm của Sony không hề độc hại nhưng cách làm việc cẩu thả của phần mềm đó đã tạo ra lỗ hổng khiến cho người dùng bị vô hiệu hóa khả năng bảo mật". Đồng thời sáng kiến "âm thầm" này của Sony đã vi phạm hàng loạt quy ước quốc tế về bảo mật.
Động thái ngay sau đó của Sony là tuyên bố "hầu hết người dùng không hề biết rootkit là gì, vậy việc gì họ phải quan tâm đến nó?", đồng thời Sony cho ra mắt công cụ gỡ bỏ rootkit của họ. Sai lầm nối tiếp sai lầm, Mark Russinovich lại tiếp tục chỉ ra rằng công cụ mà Sony cung cấp không có tác dụng loại bỏ rootkit mà lại nhằm mục đích che dấu kĩ hơn những gì Sony đang can thiệp. Thậm chí công cụ này còn "vô tình" tiếp tay cho các loại hình phá hoại khác một cách gián tiếp.
Cho đến khi sự việc rùm beng và tòa án bắt đầu khởi kiện, Sony mới vội vội vàng vàng ngừng phân phối và thu hồi toàn bộ số CD đang trôi nổi trên thị trường. Sony đã phải móc hầu bao tới 6 tỉ USD để đền bù thiệt hại cho người dùng và các án phí xung quanh vụ kiện tụng. CD của Sony đã bị rất nhiều người dùng tẩy chay.

4. TJX: Trả giá vì sự thờ ơ (2005)

Vào tháng 1/2007, công ty mẹ của chuỗi cửa hàng bán lẻ TJ Maxx, Marshalls và HomeGoods đã thừa nhận thông tin cá nhân của 45 triệu khách hàng đã bị tin tặc tấn công và đánh cắp thông qua một lỗ hổng Wi-Fi. Hệ thống bị hack từ đầu tháng 7/2005 nhưng mãi đến tháng 12/2006 TJX mới phát hiện ra xâm nhập trái phép. Trong một lần đánh giá thiệt hại nội bộ, TJX đã thống kê được trong vòng 12 tháng số nạn nhân đã lên tới 90 triệu.
Tuy nhiên trong báo cáo của mình với các nhà chức trách, TJX không những đã công bố muộn sự cố nghiêm trọng này mà còn che đậy bằng những con số nhỏ hơn rất nhiều. Giải thích cho việc này, TJX đã lý giải "sự việc quá phức tạp mà khâu kỹ thuật chúng tôi lại quá sơ sài nên việc điều tra mới lâu như vậy". Dư luận và một loạt các ngân hàng liên quan rất phẫn nộ vì thái độ thờ ơ của TJX khi phát hiện ra xâm nhập trái phép và những chi tiết sai sự thật trong báo cáo.
Sau khi bắt được thủ phạm, tên hacker 29 tuổi Albert Gonzalez đã thú nhận hành vi trộm cắp của mình. Tháng 3/2010, hắn đã bị kết án 40 năm tù vì đã rút ruột 170 triệu thẻ tín dụng. Đây được coi là vụ trộm cắp công nghệ cao lớn nhất trong lịch sử.

5. HP: Khi chủ tịch làm gián điệp (2006)

Nghi ngờ thành viên của hội đồng ban quản trị cấu kết với báo chí đã làm rò rỉ thông tin nội bộ. Vào tháng 9/2006, bà Patricia Dunn nguyên chủ tịch HP lúc đó đã thuê một nhóm chuyên gia bảo mật mạo danh các thành viên trong HĐQT và phóng viên của các báo New York Times, Wall Street Journal, Business Week và CNET. Nhóm này đã liên lạc với tổng đài điện thoại để khai thác và nghe lén các cuộc gọi của chủ thuê bao, thậm chí họ còn cố gắng cài keylogger vào máy của một số phóng viên.
Sau khi vụ việc bị bại lộ, bà Patricia Dunn và rất nhiều nhân viên đã bị truy tố với các cáo buộc hình sự và một số tội danh dân sự. Tuy nhiên HP đã có một phiên họp nội bộ để dàn xếp sự việc ổn thỏa và tất cả đều trắng án. Bà Patricia Dunn từ chức vào ngày 22/9/2006.

6. Dell: Đen hơn cả than (2006)

Vào tháng 6/2006, tờ báo Inquirer đã đăng tải một đoạn video ngắn về sự việc laptop hãng Dell bỗng dưng bốc cháy và phát nổ trong một cuộc họp tại Oska, Nhật Bản. Sau khi vụ việc lan rộng trên báo chí, đại diện của Dell đã khẳng định rằng đây là một sự cố hi hữu và không có gì nghiêm trọng cả.
Tuy nhiên chỉ một tháng sau, một chiếc máy tính xách tay khác của Dell đã phát nổ ở bang Illinois, Hoa Kỳ. Vài ngày sau, lại một chiếc máy tính khác bốc cháy tại Singapore. Thậm chí một người đàn ông 62 tuổi trong chuyến đi săn ở bang Nevada đã phải bỏ chạy cùng một người bạn khi chiếc Dell Inspiron 1300 của ông bốc cháy dữ dội làm ba hộp đạn trong xe ô tô phát nổ, ngay sau đó chiếc ô tô cũng phát nổ theo.
Sau đó phải mất tới hai tuần để Dell, Apple, HP và một số hãng máy tính xách tay khác thông báo tới người tiêu dùng về sự cố này, đây là đợt thu hồi sản phẩm lớn nhất trong lịch sử của ngành công nghiệp điện tử tiêu dùng. Thủ phạm chính là 4 triệu cục pin do Sony sản xuất. Máy tính thì bị cháy thành than, nhưng uy tín của Dell sau vụ việc này còn đen tối hơn cả than.

7. Amazon: Tên trộm ngoan cố (2009)

Hàng trăm người dùng Kindle (một thiết bị đọc sách điện tử do Amazon sản xuất) phát hiện hai cuốn sách mà họ đã mua bị mất tích một cách bí ẩn vào một đêm trong tháng 7/2009. Dư luận rất ngạc nhiên và không hiểu sự việc này do phần cứng hay phần mềm của Kindle. Thậm chí có giả thiết cho rằng hacker đã đột nhập vào hệ thống bán hàng trực tuyến của Kindle rồi bằng cách nào đó truy cập vào thiết bị của họ để xóa. Cuối cùng người ta đã tìm ra tên trộm, đó chính là Amazon.
Amazon đã lén lút truy cập vào kho dữ liệu của người dùng trên thiết bị Kindle để thu hồi hai cuốn sách điện tử, đồng thời họ hoàn lại 99 cent mỗi cuốn vào tài khoản của khách hàng. Hàng triệu khách hàng của Amazon không khỏi bàng hoàng và bất bình trước hành động Amazon xâm nhập trái phép vào tài khoản trực tuyến và tự ý xóa dữ liệu mà không cần sự đồng ý của khách hàng. Amazon đã vi phạm nghiêm trọng các điều khoản bảo mật mà chính Amazon đã soạn ra.
Tuy nhiên sau đó, Amazon lại đưa ra một tuyên bố hết sức ngu ngốc: "bạn không sở hữu tất cả những thứ mà bạn đã mua". Sự việc đã tồi tệ đến mức không thể tồi tệ hơn được nữa. Nhiều người dùng đã đâm đơn kiện tại tòa án liên bang, dư luận tẩy chay Kindle và các sản phẩm khác của Amazon.
Một tuần sau thảm kịch do chính mình dựng lên, giám đốc điều hành Amazon - ông Jeff Bezos đã chính thức gửi lời xin lỗi tới toàn thể khách hàng vì phương án xử lý ngu xuẩn của mình. Amazon đã thiệt hại không nhỏ cả về uy tín và lợi nhuận, phải mất một thời gian dài sau đó họ mới lấy lại được lòng tin của khách hàng.

8. Apple: Vấn đề ở cách cầm điện thoại của bạn (2010)

Vào tháng 6/2010, Apple đã nhận được hàng loạt phản ánh của người dùng về tình trạng mất sóng iPhone mỗi khi đặt ngón tay vào góc dưới cùng bên trái. Đây là một sai sót kỹ thuật rất cơ bản trong khâu thiết kế và sản xuất của Apple. Đại diện Apple - ông Steve Jobs đã trả lời người dùng rằng "nắp của điện thoại đã đóng rất chặt nên không thể thay đổi được nữa, người dùng hãy cầm iPhone theo cách khác". Thay vì công nhận hãng đã thiết kế sai vị trí ăng ten, Apple lại đổ tại người dùng đã cầm điện thoại sai cách.
Dư luận phải bật cười vì câu trả lời hết sức "trẻ con" này của giám đốc điều hành Apple. Hàng loạt tờ báo, blog đăng tải các bài viết công kích và tranh biếm họa cho sự kiện này. Cuối cùng thì Apple cũng phải thừa nhận lỗi là do mình và giải pháp họ đưa ra là cung cấp một... miếng cao su miễn phí để khắc phục tạm thời.

9. Apple: Theo dõi người dùng ? (2011)

"Apple đang theo dõi đường đi nước bước của bạn trong suốt một năm qua" là nội dung báo cáo của hai nhà nghiên cứu tại bang Floria, Hoa Kỳ vào giữa tháng 4/2011. Sau khi xác nhận kết quả kiểm chứng trong báo cáo trên là chính xác, người dùng iPhone trên thế giới tỏ ra hết sức phẫn nộ vì hành động này của Apple. Một tệp tin ghi lại rất chi tiết lịch trình iPhone trong suốt một năm liền đã được tìm thấy, thậm chí tệp tin này còn không bị mã hóa và bất cứ ai cũng có thể mở được. Nực cười hơn nữa, ngay cả khi bạn tắt dịch vụ định vị thì lịch trình của bạn vẫn được ghi lại bình thường.
Đi ngược lại thái độ gay gắt của công chúng, Apple ung dung giữ im lặng và không trả lời bất cứ câu hỏi nào của báo chí và người dùng. Cho đến khi các nhà chức trách đồng loạt vào cuộc, Apple mới đưa ra một thông cáo rất chung chung và mơ hồ có nội dung "Apple không bao giờ theo dõi người dùng, sự cố trên xảy ra chỉ vì một vài sai sót nhỏ của iOS".
Câu trả lời vô trách nhiệm sau một tuần giữ im lặng này của Apple như đổ thêm dầu vào lửa. Một số nghị sĩ và thượng nghị sĩ đã yêu cầu Bộ tư pháp và Ủy ban thương mại liên bang vào cuộc, đồng thời yêu cầu Apple phải có mặt tại phiên điều trần trước Quốc Hội vào ngày 10/5 tới. Cho đến thời điểm này, Apple vẫn cho rằng họ chẳng làm tổn hại gì đến sự an toàn của người dùng, đó đơn thuần chỉ là "một vài sai sót nhỏ".

10. Sony: Sự thật kinh hoàng (2011)

Hôm 20/4/2011, Sony đã phải vô hiệu hóa hệ thống PlayStation Network (PSN) và Qriocity sau khi phát hiện một vụ xâm nhập trái phép trên máy chủ. Ngay sau đó Sony đã giữ im lặng tuyệt đối và che đậy bằng một sự cố mất điện trên hệ thống máy chủ. Khoảng một tuần sau đó, họ mới công khai trên thông tin đại chúng một sự thật kinh hoàng: 77 triệu tài khoản PlayStation Network đã bị xâm nhập bất hợp pháp. Hack đã nắm được mọi dữ liệu của người dùng bao gồm họ và tên, địa chỉ, email, ngày sinh, tên đăng nhập và mật khẩu, thậm chí là câu hỏi và câu trả lời bảo mật.
Gần hai tuần sau đó PSN vẫn chưa thể tiếp tục hoạt động, phó chủ tịch điều hành Sony - ông Kazuo Hirai cùng hai cán bộ cấp cao đã cúi đầu xin lỗi toàn thể khách hàng. Sony hứa hẹn các dịch vụ sẽ dần dần bắt đầu hoạt động trở lại trong tuần này và họ sẽ tặng cho khách hàng một số món quà giá trị dưới hình thức miễn phí và ưu đãi trên tinh thần cầu thị.
Tuy nhiên ngày hôm qua (3/5/2011), Sony buộc phải tiếp tục đóng cửa cụm máy chủ Sony Online Entertainment (SOE) sau khi phát hiện có tới 24,6 triệu tài khoản bị xâm nhập và 12.700 thẻ tín dụng bị đánh cắp. Hacker đã tấn công và đánh cắp dữ liệu của SOE trong hai ngày 16-17/4, Sony cho biết không tìm thấy mối liên quan giữa hai vụ tấn công này vì hệ thống máy chủ của SPN và SOE không liên quan đến nhau.
Tính đến thời điểm này chúng ta vẫn chưa có con số chính xác về thiệt hại của vụ tấn công kinh hoàng này. Chúng ta chỉ biết rằng hiện tại đây là sự cố an ninh bảo mật lớn nhất trong lịch sự Internet từ trước đến nay, thậm chí hiện tại số tổng thiệt hại chưa có dấu hiệu giảm bớt. Hậu quả sẽ được giảm đi rất nhiều nếu như Sony thông báo cho người dùng ngay khi phát hiện ra xâm nhập để họ kịp thời bảo vệ và thay đổi các thông tin tài khoản của mình.
Tổng hợp (PC World & một số nguồn khác)

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2011

Giả lập Android đầu tiên

anhso.net

Emulator Keyboard Mapping

The table below summarizes the mappings between the emulator keys and and the keys of your keyboard.
Table 2. Emulator keyboard mapping
Emulated Device Key Keyboard Key
Home HOME
Menu (left softkey) F2 or Page-up button
Star (right softkey) Shift-F2 or Page Down
Back ESC
Call/dial button F3
Hangup/end call button F4
Search F5
Power button F7
Audio volume up button KEYPAD_PLUS, Ctrl-5
Audio volume down button KEYPAD_MINUS, Ctrl-F6
Camera button Ctrl-KEYPAD_5, Ctrl-F3
Switch to previous layout orientation (for example, portrait, landscape) KEYPAD_7, Ctrl-F11
Switch to next layout orientation (for example, portrait, landscape) KEYPAD_9, Ctrl-F12
Toggle cell networking on/off F8
Toggle code profiling F9 (only with -trace startup option)
Toggle fullscreen mode Alt-Enter
Toggle trackball mode F6
Enter trackball mode temporarily (while key is pressed) Delete
DPad left/up/right/down KEYPAD_4/8/6/2
DPad center click KEYPAD_5
Onion alpha increase/decrease KEYPAD_MULTIPLY(*) / KEYPAD_DIVIDE(/)
Note that, to use keypad keys, you must first disable NumLock on your development computer.

PhoneGap framework: Công cụ phát triển ứng dụng cho cả iOS, Android, Windows Phone BlackBerry, webOS, Bada, Symbian miễn phí

PhoneGap là công cụ phát triển ứng dụng cho cả iOS, Android, Windows Phone, BlackBerry, webOS, Bada, Symbian cùng lúc, viết một lần, biên dịch qua cloud và chạy khắp nơi. Đây là một dự án nguồn mở miễn phí của Nitobi giúp việc phát triển ứng dụng di động dễ dàng hơn đối với mọi hệ điều hành, hiện đã có 40.000 lượt tải về mỗi tháng, tổng cộng là 600.000 lượt tải, đội ngũ phát triển ổn định. Phiên bản đầu tiên PhoneGap 1.0 vừa được phát hành, cho phép nhà phát triển sử dụng HTML, CSS và JavaSript để viết và triển khai ứng dụng.

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

Lập trình với: Google Android Mobile

1
Đã từ lâu bạn mê mẩn với các ứng dụng tiện ích thông minh của Google. Từ hệ thống email siêu tưởng 7GB (Google Mail), hệ thống chia sẻ văn bản dành cho văn phòng (Google Docs) cho đến các hệ thống định toàn cầu của Google Map, Google Earth. Tất cả chúng đều mang một phong cách riêng của Google, phong cách của sự sáng tạo.

Đầu năm 2009, Google tung ra thị trường hệ điều hành đầu tiên của mình dưới cái tên Google Android. Phiên bản đầu tiên của Android chạy trên các thiết bị Mobile. Cũng giống như các phần mềm khác của Google, Android hỗ trợ rất tốt cho các ứng dụng viết bằng ngôn ngữ Java.
Và tuyệt với hơn nữa, Google cung cấp riêng một SDK giúp các lập trình viên dễ dàng hơn trong việc viết nên các ứng dụng chạy trên Android. Google hứa hẹn sẽ tung ra phiên bản Android cho máy PC vào đầu năm 2010 và đánh chiếm một phần thị trường hệ điều hành rất tiềm năng này. Lúc ấy, các lập trình viên Java chắc chắn sẽ có nhiều đất để dụng võ.
Vậy bạn có sẵn sàng để trở thành một lập trình viên? Hãy thử một lần xem sao nhé:
Bước 1: Chuẩn bị các công cụ cần thiết
1. Download Google Android SDK tại địa chỉ
http://code.google.com/android/download.html
Giải nén và đặt vào thư mục C:\tools\android
2. Download công cụ build Ant tại địa chỉ
http://ant.apache.org/bindownload.cgi
Giải nén và đặt vào thư mục C:\tools\ant
3. Nếu bạn chưa có JDK hãy download tại địa chỉ
http://java.sun.com/javase/downloads/index.jsp
Cài đặt JDK vào thư mục C:\tools\java
4. Nếu muốn phát triển các ứng dụng có giao diện đồ hoạ trên Android, bạn hãy download thêm framework DroidDraw tại địa chỉ
http://code.google.com/p/droiddraw/
Sau đó cũng giải nén vào thư mục C:\tools\droiddraw
5. Đừng quên đặt các biến môi trường ANT_HOME và JAVA_HOME với giá trị tương ứng là C:\tools\antC:\tools\java. Sau đó thêm vào biến CLASSPATH đường dẫn tới thư mục bin của Ant và Java (C:\tools\ant\bin C:\tools\java\bin). (để thiết lập biến môi trường: click chuột phải vào My Computer -> Properties -> Advanced -> Environment Variables)
Bước 2: Triển khai ứng dụng HelloWorld trên Android
Khi chạy ứng dụng này, rất đơn giản, sẽ có dòng chữ “Hello, World” xuất hiện trên màn hình điện thoại.
1. Khởi động trình mô phỏng (Emulator) bằng cách chạy C:\tools\android\tools\ emulator.exe. Nếu mọi việc tốt đẹp, trình mô phỏng máy điện thoại Google Phone thế hệ 1 chạy Google Android sẽ xuất hiện trên màn hình
2
2. Sau khi emulator khởi động xong, ta vào chế độ dòng lệnh, chuyển sang thư mục C:\tools\android\tools
3. Thực thi lệnh sau đây để tạo ứng dụng đầu tiên lên điện thoại
C:\tools\android\tools>activitycreator.bat --out tipcalc com.android.tipcalc
4. Sau khi chạy xong, ta thấy xuất hiện thư mục tipcalc. Thực thi tiếp lệnh:
C:\tools\android\tools>cd tipcalc
3
C:\tools\android\tools\tipcalc>ant
5. Cuối cùng thực hiện lệnh sau để cài đặt ứng dụng lên điện thoại
C:\tools\android\tools\tipcalc>..\adb install bin\tipcalc-debug.apk
4
6. Bây giờ ta vào menu chính của điện thoại, icon của ứng dụng tipCalc sẽ xuất hiện:
5
7. Nhấn đúp chuột vào icon trên màn hình để chạy ứng dụng tipCalc
6
Tip *** Nếu bạn muốn phát triển một ứng dụng có giao diện đồ hoạ, thật đơn giản, khởi động framework DroidDraw bằng cách chạy C:\tools\droiddraw\droiddraw.exe.
7

TỔNG HỢP SÁCH LẬP TRÌNH TRÊN DI ĐỘNG BẰNG ANDROID



Giới thiệu:Android là một công nghệ mở của google cho phép các nhà phát triển tạo ra các ứng dụng chạy trên thiết bị di động sử dụng Android.Hiện nay các điện thoại chạy hệ điều hành Android rất nhiếu như:HTC,SamSung,Sony Ericsson,Google Nexus One,Acer phone.....



-Samsung Galaxy S i9000:


-HTC Droid Incredible:


-Google Nexus One:


Nay forum đã sưu tập và soạn thảo tài liệu học tập và thực hành cũng như các cài đặt để lập trình trên các điện thoại di động sử dụng Android:

Download bộ tài liệu tiếng Việt: http://www.mediafire.com/?dwfiydwnwnlbm

Download bộ tài liệu tiếng Anh:http://www.mediafire.com/?o2og0gn7gvoly

Hướng dẫn cài Android trên Eclipse có hình ảnh minh họa: http://www.mediafire.com/?an4f3obkp9miz88


Chúc các bạn vui vẻ và thành công trong cuộc sống !!!!

Macromedia Flash Professional 8 Potable


Macromedia Flash Professional 8


Macromedia Flash Professional 8 cho phép sáng tạo các sản phẩm Flash chuyên nghiệp và thiết kế những nội dung tương tác với sự lôi kéo hấp dẫn. Flash Professional 8 bao hàm các công cụ đơn nhất cho việc thiết kế các hiệu ứng đồ họa, text, video, và các nội dung cho thiết bị di động. Các hiệu ứng mới, bao gồm drop shadow, blur, glow, bevel, và color adjust, cho phép thiết kế hấp dẫn và thuyết phục hơn với việc điều khiển hoàn toàn các điểm ảnh và sự chính xác tuyệt vời. Công cụ tùy biến mới cho phép điều khiển tỉ mỉ trên hoạt cảnh. Cuộc cách mạng về bộ máy font chữ FlashType đã đảm bảo sạch sẽ, chữ sẽ có chất lượng cao. Trên đây là các đặc điểm mới cho chất lượng của website thương mại và các nhân, đồng thời nó cũng cải thiện những kinh nghiệm số đã có.
Macromedia Flash Professional cho phép bạn:
  • Tạo các website flash hấp dẫn cho việc quảng cáo, đào tạo, tiếp thị, tổ chức tập đoàn, giải trí,...
  • Xây dựng và triển khai website với nhiều thiết bị chung
  • Phát triển các ứng dụng hướng dữ liệu dễ dàng bằng cách sử dụng việc kết nối cơ sở dữ liệu và cập nhật các thành phần cho nguồn dữ liệu như web server, XML, và các csdl liên quan.
  • Tích hợp video cấp độ chuyên nghiệp
  • Xây dựng và phân phối, hỗ trợ Unicode đầy đủ
  • Dễ dàng quản lý, xuất bản tất cả các file thông qua một khung đơn
Download TRỰC TIẾP upload tại host của mình (link đảm bảo tồn tại vĩnh viễn).

Bản Full

Bản Protable

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

Sự khác nhau giữa quick format và full format trong Windows

Khi bạn sử dụng máy tính, chắc hẳn bạn đã từng format ổ đĩa nhiều lần. Có thể đó là ổ đĩa USB, ổ đĩa mềm, hoặc cả ổ đĩa cứng trong máy tính của bạn. Khi được lựa chọn 2 chế độ format : quick format và full format, bạn đã băn khoăn suy nghĩ không biết lựa chọn nào là tốt cho ổ đĩa của mình. Rất nhiều bạn chọn quick format vì nó "nhanh chóng", nhưng sự thật có phải "nhanh chóng" là tốt? Sự khác nhau giữa 2 chế độ này là như thế nào? Bài viết dưới đây sẽ giải đáp thắc mắc cho bạn.

Chúng có thực sự khác biệt nhau?
Microsoft không hề lãng phí thời gian để tạo ra 2 loại tùy chọn "nhanh chóng và dễ dàng" với "thực sự tốn thời gian" dùng đại diện cho quick format và full format chỉ để cho vui. Thực sự là chúng có khác nhau. Do đó, nếu bạn hiểu được "hiệu quả" cũng như "hậu quả" mà chúng tạo ra cho ổ đĩa của bạn, bạn sẽ có cái nhìn chính xác về việc sẽ lựa chọn chế độ nào.
Điều gì sẽ xảy ra khi thực hiện Full Format?
Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng sử dụng Full Format (với định dạng theo NTFS thì tốt hơn FAT) là tốt hơn cho ổ dĩa của bạn. Với một định dạng Full Format, ổ dĩa của bạn gần như sạch sẽ hoàn toàn. Do đó, để các phục hồi lại dữ liệu cũ trước khi format hầu như là không thể. Điều này giúp cho các dữ liệu cực kì quan trọng của bạn không bị kẻ xấu lợi dụng.
Ngoài ra, chế độ Full Format còn giúp bạn phát hiện ra được các "bad sector". Khi sử dụng máy tính một thời gian dài, ổ cứng của bạn sẽ trở nên cũ, tốc độ trở nên chậm chạp, và tất nhiên xảy ra lỗi đâu đó trong ổ đĩa là không thể tránh khỏi.
Khi phát hiện ra những chỗ bị bad sector, nó sẽ tự động tìm cách sửa chữa lại nó cho bạn. Khi sửa chữa thành công, tức là ổ đĩa của bạn một lần nữa được phục hồi đầy đủ chức năng, đồng thời tất cả không gian còn trống trên ổ đĩa bạn có thể sử dụng được hết. Đồng thời, các file hệ thống sẽ được xây dựng lại mới hoàn toàn và được kiểm tra lại mỗi khi việc cài đặt được tiến hành.
Điều gì sẽ xảy ra khi thực hiện Quick Format?
Tiếp theo, chúng ta sẽ tiếp tục phân tích về chế độ Quick Format. Quick Format hầu như đối lập hoàn toàn với Full Format (Gọi là "hầu như" là vì nó vẫn làm "một cái gì đó" để được gọi là "quick format"). Trong ổ đĩa tồn tại một thứ gọi là "journalling" (Ví dụ: NTFS, ext3, ext4, HFS+ đều được gọi là journalling). Những "journal" có nhiệm vụ lưu lại dấu vết vị trí của các file vẫn tồn tại trong ổ đĩa. Quick Format sẽ làm nhiệm vụ xóa hết đi những những "journalling" này, và đặt vào đó một file hệ thống mới, trống, đè lên file hệ thống cũ.
Tuy nhiên, Quick Format không thực sự xây dựng lại các file hệ thống, cũng không tìm kiếm các "bad sector", cũng không "thực sự" xóa dữ liệu. Thành ra, bạn vẫn có thể sử dụng một chương trình giúp bạn hồi phục lại các dữ liệu đã xóa khi dùng Quick Format. Điều này thực sự nguy hiểm khi bạn đang muốn hủy đi dữ liệu quan trọng nào đó. Do đó, đây thực sự không phải là một lựa chọn tối ưu khi đề cập đến vấn đề bảo mật.

Kết luận


Sau khi đọc bài viết này xong, bạn sẽ lựa chọn loại format nào? Nếu bạn vẫn không thể tự quyết được thì tôi khuyến cáo bạn nên chọn Full Format, vì nó sẽ giúp bạn tránh được những rủi ro về sau. Tuy nhiên, bạn có thể đánh giá hai phương pháp trên theo riêng bạn và chọn những gì bạn nghĩ là tốt nhất cho bạn

Nguồn: makeuseof.com

Lịch sử phát triển trình duyệt web

http://evolutionofweb.appspot.com/

Bài đăng phổ biến