Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

Intel chê mô hình sản xuất chip thông thường: Sự thật thế nào?

Trong buổi ra mắt dòng chip 22nm - Ivy Bridge (IvB) - mới đây của Intel, Mark Bohr, giám đốc Kiến trúc Tiến trình & Tích hợp, thuộc bộ phận Công nghệ & Sản xuất của Intel, cho biết, chỉ có mô hình sản xuất chip "tự cung tự cấp như của Intel mới đảm bảo sự bền vững".
Việc là một hãng sản xuất bán dẫn có kèm fab (nhà máy sản xuất chip) thực sự giúp chúng tôi giải quyết các vấn đề với các sản phẩm bé nhỏ và phức tạp này" (bạn có thể thấy Bohr trong đoạn clip giới thiệu của Intel), được tạp chí EE Times ghi nhận lại. Đồng thời, theo Bohr, mô hình sản xuất chip gia công bán dẫn của Apple, Intel, AMD...sẽ sớm nhận lấy thất bại. (Bohr là một nhân vật quan trọng liên quan đến các công nghệ 3-D transistor, HKMG, 22nm... của Intel).
Mark Bohr, một trong các Intel Fellow
Tìm hiểu các công nghệ sản xuất chip
Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng ta hãy tìm hiểu về các công nghệ sản xuất vi xử lý cho máy tính cũng như điện thoại, tablet hiện nay. Các công ty bán dẫn trên thế giới thường được chia ra làm 2 loại:
- Integrated Device Manufacturers (IDM hoặc fablite) như Intel và Samsung, là những hãng có khả năng tự thiết kế và sản xuất các con chip cho chính mình. Hiện nay không còn nhiều các công ty dạng này.

- Fabless semiconductor company như AMD, Apple, NVIDIA, Qualcomm, TI, Broadcom..., là những hãng chỉ thiết kế chip rồi thuê các đơn vị gia công (foundry company) như TSMC, UMC, Global Foundries (GF), SMIC... làm ra chip cho mình. Các công ty dạng này chiếm đa số. Ví như con chip 32-bit VN1632 của Việt Nam cũng do hãng khác gia công.
Mô hình Fab 42 của Intel khi hoàn thiện có trị giá 5 tỷ USD
Bohr cho hay: "Việc là một hãng sản xuất bán dẫn có kèm fab (nhà máy sản xuất chip) thực sự giúp chúng tôi giải quyết các vấn đề với các sản phẩm bé nhỏ và phức tạp này. Khi bạn nắm giữ dây chuyền sản xuất trong tay, bạn hoàn toàn chủ động được số lượng sản phẩm và thời điểm công bố chúng. Nhưng khi bạn phải thuê người khác làm cho mình, bạn hoàn toàn lệ thuộc vào họ. Thất bại của đơn vị gia công có thể đe dọa toàn bộ kế hoạch của bạn".
Theo Bohr, việc TSMC công bố sự hợp nhất các tiến trình 20nm "con" vào làm một hồi tuần trước là một "thừa nhận thất bại" khi không thể cung cấp nhiều tiến trình khác nhau vốn sẽ phù hợp với các thiết kế chip khác nhau. "Qualcomm sẽ không có khả năng dùng tiến trình (20nm) đó (của TSMC). Mô hình gia công (bán dẫn) đang sụp đổ".
So sánh mô hình fablite, fabless & foundry giữa Intel với các hãng
Các hãng gia công bán dẫn trước đây vẫn thường cung cấp nhiều tiến trình "con" để phù hợp và tối ưu cho từng loại ứng dụng (thiết kế chip). Việc chuyển sang dùng chung mọi thiết kế với một dây chuyền duy nhất có thể khiến cho con chip sau cùng không đạt được các mục tiêu về hiệu năng, nhiệt độ, mức tiêu thụ điện... mà hãng thiết kế (khách hàng) mong muốn. Hệ quả là sản phẩm sau cùng (sử dụng các con chip trên) có thể sẽ chậm hơn hoặc tệ hơn các model của đối thủ, tức mô hình fabless sẽ "sụp đổ".
TSMC có nhiều tiến trình "con" phù hợp cho từng loại ứng dụng điện tử
Intel đang đùa?
Nếu bạn mới nghe về công nghệ bán dẫn & sản xuất chip, những điều Bohr nói thật sự đáng lo ngại. Điều này có nghĩa những con chip tương lai (không phải do Intel sản xuất) có thể sẽ gặp "rắc rối": không mạnh như bạn mong đợi, không tiết kiệm điện như mong đợi, không dễ mua như mong đợi...Và thực sự thì điều này đã từng xảy ra với các thiết kế 40nm và nay là 28nm: TSMC thường gặp các sự cố về sản lượng và không đủ cung cho AMD, NVIDIA...
Nhưng trên thực tế, đây không phải lần đầu tiên Intel "dìm hàng" đối thủ. Cách đây 4 năm, người khổng lồ x86 này từng có dự báo trước về tương lai của giới công nghiệp bán dẫn, mà cụ thể là mô hình fabless & foundry.
Trước hết ở góc phải trên, bạn sẽ thấy doanh thu (revenue) từ các công ty fabless tăng lên theo các năm (2000 - 2007 - 2012), từ 17 cho đến 46 và 110 tỷ USD, với tỷ lệ tăng trưởng 10, 21 và 25% (2012 mới là dự đoán). Nghe rất ấn tượng phải không?
Có điều, sự tăng trưởng này đến từ đâu? Có 2 con đường:
(1) Nhu cầu chip bán dẫn tăng lên (áp dụng cho cả fabless lẫn fablite).
(2) Số lượng các công ty fabless tăng lên.
Con đường (1) không có gì khó hiểu. Nhu cầu di động ngày càng tăng đòi hỏi nguồn cung di động (mobile & smartphone) cũng phải tăng. Bất kỳ công ty nào có sản phẩm đáp ứng được thị trường mới nổi (emerging market) tất đều có khả năng "kiếm ăn": Apple, Samsung, Qualcomm, TI, NVIDIA, Broadcom... Kể cả Intel với tham vọng chip Atom.
Con đường (2) lại khác. Vì sao lại có thêm nhiều công ty fabless chứ không phải fablite? Biểu đồ ở góc trái trên sẽ giải thích cho bạn: chi phí xây dựng một fab ngày càng lớn. Hiện nay để xây dựng một fab sản xuất các wafer 300mm cần 4 - 5 tỷ USD, con số này gấp hàng chục lần giá trị thực của một công ty fabless, hay nói đơn giản các công ty nhỏ (vốn ít) vừa ra mắt không đủ khả năng để sở hữu một fab riêng. Ấy là chưa tính chi phí hoạt động & nhân công cho chúng: nhân sự trong ngành này không hề dễ đào tạo.
Fablite - Cuộc chơi không đơn giản
Nếu bạn thắc mắc tiếp tại sao chi phí xây dựng fab ngày càng lớn, 2 đồ thị bên dưới lại giải thích tiếp: số lượng các nhà sản xuất (NSX) công cụ bán dẫn (Fab Equipment Manufactures) ngày càng ít đi. Quy luật thị trường đã nói rõ: càng ít NSX thì tính cạnh tranh càng giảm, NSX tha hồ "thổi" giá các sản phẩm lên - cụ thể ở là thiết bị dùng cho sản xuất chip (lưu ý rằng Intel cũng đi mua thiết bị về chứ không tự làm ra chúng).
Nhưng tại sao lại ngày càng ít NSX công cụ bán dẫn khi đây rõ ràng là một thị trường tiềm năng? Để trả lời thắc mắc này, chúng ta cần nhắc lại một định luật khá nổi tiếng không chỉ ở công nghiệp bán dẫn nói riêng mà toàn ngành ICT nói chung: định luật Moore (Moore's law).
Lộ trình bán dẫn do Intel đề ra theo định luật Moore
Định luật Moore nói rằng số lượng transistor trên một diện tích vi mạch (IC) sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 2 năm. Như trong hình minh hoạ ở trên, lượng trans (Integration Capacity) của node bán dẫn sau lại nhiều gấp 2 lần node trước đấy (đơn vị tỷ trans - BT). Song bạn cần hiểu rằng: "định luật" này được thực hiện bởi con người, không có "quy luật" tự nhiên nào có thể giúp điều đó xảy ra. Các kỹ sư Intel "cố sống cố chết" để duy trì cho định luật này tiếp tục tồn tại - Moore là một trong những người đầu tiên sáng lập ra công ty này.
Thực tế thì "phiên bản" Moore's law đầu tiên đặt ra mốc 1,5 năm (18 tháng). Về sau nó được sửa thành 2 năm. Và gần đây, mốc này bị "chệch" đi gần 2,5 năm.
So với thực tế, lộ trình này ngày càng bị chệch đi
Lộ trình "tick-tock" của Intel đặt ra các mốc thời gian sẽ giới thiệu các dòng chip mới dựa trên kiến trúc & kỹ thuật bán dẫn mới. Dù vậy, chỉ có 2 dòng chip Penryn và Nehalem (cùng 45nm) là được ra mắt đúng với lộ trình này. Bắt đầu từ node 32nm, Intel đã không giữ vững được mục tiêu trên: các chip Westmere ra mắt vào 2010, Sandy Bridge vào 2011 và nay là Ivy Bridge trong 2012. Nếu đúng theo lộ trình thì lúc này chúng ta phải được thấy chip Haswell chứ không phải đến năm sau.
Điều gì đã khiến "tick-tock" bị "lạc nhịp"? Lại một lần nữa: định luật Moore là do con người làm nên, và con người thực hiện dựa trên các tiến bộ kỹ thuật cùng với "sự cho phép" của các định luật vật lý. Trong quá khứ, công nghiệp bán dẫn có thể tiến nhanh vì nó không gặp quá nhiều giới hạn vật lý như hiện nay. Kích thước các transistor ngày càng nhỏ, giới hạn vật lý ngày càng  nhiều, cụ thể nhất là sự đánh thủng điện môi hoặc hiệu ứng hầm chui lượng tử - electron có thể "chui" qua các lớp điện môi và gây ra hiện tượng đoản mạch. Nói cách khác, định luật Moore đang dần chạm tới giới hạn của nó: ngày càng mất nhiều thời gian và tiền bạc hơn để thu nhỏ các transistor mà vẫn phải đảm bảo chúng làm việc tốt...
Ngay cả "giàu" như Intel còn bị "lạc nhịp", vậy có bao nhiêu công ty bán dẫn có khả năng chi trả để sở hữu một fab riêng và liên tục cập nhật kỹ thuật sản xuất mới? Lẽ dĩ nhiên ai cũng hiểu "tự cung tự cấp" sẽ tốt hơn, nhưng giữa "mong muốn" và "khả năng thực tế" là 2 phạm trù hoàn toàn khác nhau. Fablite rõ ràng không dành cho "con người nghèo".
Tương lai của fabless?
Chê người thì dễ, nhất là khi bạn tốt hơn người khác, song không đồng nghĩa với mọi chê bai của bạn đều đúng. Việc Intel có được con chip 22nm đầu tiên là một thành quả đáng ghi nhận, nhưng chẳng có nghĩa rằng các đối thủ của Intel không thể đạt được điều tương tự. Mô hình kinh doanh fabless rõ ràng có nhược điểm nhưng không phải không có ưu điểm. Trước hết: đó là điểm khởi đầu cho các công ty nhỏ.
Mẫu transistor planar và 3-D của Intel
Trong lịch sử công nghiệp bán dẫn, đã có hàng trăm công ty lớn nhỏ ra đời với lượng nhân công từng công ty khá ít. Một số có sản phẩm & chiến lược cạnh tranh tốt nên tồn tại, một số không nên mất đi. Bản thân Intel khi mới ra đời cũng chỉ là một công ty nhỏ, lúc mà các đồng sáng lập viên của nó là nhân viên của công ty khác - Fairchild Semiconductor. Và vào thập niên 1960 thì công nghiệp bán dẫn vẫn rất sơ khai, kỹ thuật sản xuất lúc ấy cũng khác nhiều so với nay. Intel lúc ấy cũng chỉ mới là một công ty nhỏ ở thung lũng silicon với số vốn khởi điểm 2,5 triệu USD (nếu kèm thêm trượt giá thì con số tương ứng hiện nay cũng chẳng đủ để xây một cái fab).
Như vậy, với số vốn ít ỏi ban đầu, liệu bao nhiêu hãng có thể tự sở hữu lấy tối thiểu một fab để tự làm chip? Câu trả lời đơn giản là 99% bạn phải chấp nhận mô hình fabless.
Thứ hai: kể cả có fab, liệu bạn có đủ kinh phí R&D (nghiên cứu & phát triển) để luôn bắt kịp các kỹ thuật bán dẫn mới nhất? Nói một cách đơn giản: bạn có "thích thú" việc mua một đống công cụ sản xuất để rồi 2 - 3 năm sau chúng trở nên "lạc hậu" hay không, trong khi giá thành đầu tư lúc nào cũng đắt đỏ? Dĩ nhiên bạn có thể "sang tay" cho người khác, nhưng bạn "mua rẻ" thì bạn khó lòng "bán đắt". Nếu bạn mua các công cụ sản xuất thế hệ cũ thì "cơ hội" tìm được người mua nó sẽ thấp. Còn bạn mua các thiết bị mới (hoặc mới nhất) thì chắc chắn ví của bạn phải "luôn luôn" dày. Mà kinh doanh lại không phải chuyện trẻ nít, "muốn là có".
Qua đấy có thể thấy, với mô hình fablite, đòi hỏi bạn phải có óc tư duy và năng lực kinh doanh cực tốt. Trong trường hợp xuất phát điểm của bạn chỉ là các kỹ sư điện tử thông thường, nắm ít "mánh khoé" và có ít "quen biết", bạn có dám lao vào một cuộc chơi "lành ít dữ nhiều" không? Fabless rõ ràng có ưu điểm của nó.
 
Top 20 công ty bán dẫn có doanh thu lớn nhất thế giới 2011 do IHS tổng hợp
Vậy khi công ty đã "lớn" rồi thì sao? Đến lúc này, tiếp tục theo fabless hay chuyển sang fablite sẽ tuỳ thuộc tiềm lực tài chính cũng như năng lực lãnh đạo của bạn. Ở đây chúng ta không có kết luận hướng đi nào "đúng", hướng nào "sai". Mô hình fablite của Intel và Samsung vẫn hái ra tiền, mô hình fabless của Apple, AMD, NVIDIA... cũng vậy. Trong khi Apple là NSX smartphone lớn nhất dù hãng này chẳng tự làm ra con chip A4, A5, A5X, thì Samsung tự làm ra chip Exynos lại chỉ ở hạng 4. RIM cũng như HTC cũng không có fab sản xuất chip lại ở hạng 3 và 2. Fablite hay fabless không nói lên được bạn có thành công hay không.
Ngoài ra, Mr. Bohr của chúng ta lại bỏ qua một chi tiết quan trọng: định luật Moore sẽ phải dừng lại. Dù muốn hay không, fablite như Intel cũng đến lúc không thể thu nhỏ transistor được nữa mà phải chuyển sang công nghệ sản xuất chip khác. Đấy có thể là chip lượng tử, chip quang tử hoặc chip graphene... Song điều chắc chắn là chúng không dễ làm (vì nếu dễ thì chúng đã có mặt khắp nơi rồi). Rồi TSMC, GF, UMC, SMIC... cũng sẽ đuổi kịp Intel. Lợi thế về kích thước trans chẳng mấy chốc sẽ không còn là thứ Intel có thể "khoe khoang". Nếu con chip Atom của Intel (cùng node bán dẫn) không tốt hơn các thiết kế ARM từ các hãng fabless, quả thực khuôn mặt của Bohr lúc ấy sẽ rất khó coi...
Lộ trình bán dẫn mới nhất của Intel tập trung mạnh cho Atom
Xem xét lại, mọi hình thức kinh doanh đều có rủi ro của nó. Fablite sẽ chỉ tốt nếu bạn có nguồn vốn dồi dào, mà Intel đạt được điều này bằng cách bán chip với giá thành khá "cắt cổ": thực sự chip Atom đắt hơn các chip ARM SoC, không tính tới các chip Pentium, Celeron hay Core khác. Chỉ mô hình fabless mới cho phép bạn hạ thấp giá thành sản phẩm tới mức tối đa để cạnh tranh.
Theo GenK

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012

Tự tạo ebook bằng Microsoft Word

Quản Trị Mạng - Microsoft Word có rất nhiều tính năng tốt để tạo sách điện tử (ebook) dễ dàng. Bạn có thể sử dụng nhiều kiểu style để định dạng một ebook hay thay đổi định dạng để sử dụng cho những nền tảng khác nhau. Bạn cũng có thể dùng công cụ References để tạo một mục lục tự động hay tạo ra một khuôn mẫu thiết kế sẵn để sử dụng nhiều lần, vì vậy bạn sẽ có nhiều thời gian dành cho phần nội dung hơn. Sau đây là cách để tự tạo những ebook tuyệt vời mà mất ít công sức.

Định dạng ebook

Có hơn 20 loại định dạng ebook phổ biến hiện nay. Mặc dù một số định dạng đọc được trên nhiều loại thiết bị nhưng người dùng sẽ thấy rằng không có một định dạng nào có thể đọc được trên mọi thiết bị. Trên hết, do kích thước màn hình khác nhau giữa các thiết bị vì vậy kích thước trang, định dạng ảnh và những thành phần khác cũng khác nhau.
Nếu muốn ebook của mình có thể đọc được trên nhiều thiết bị, bạn sẽ cần lưu nó dưới nhiều định dạng. Bạn phải dự định trước loại e-reader trước khi bắt đầu thay đổi định dạng. Lựa chọn loại e-reader sẽ quyết định định dạng có thể sử dụng và từ đó ta sẽ cần tìm hiểu những đặc tả chính xác về mỗi thiết bị để có thể thiết kế ebook sao cho hợp lý.
Những định dạng ebook phổ biến nhất là những định dạng mà hầu hết thiết bị đều có thể đọc được, bao gồm văn bản thuần, Adobe PDF, ePub HTML. Hầu hết các e-reader cũng có thể hiển thị ảnh mặc dù một số thiết bị như Kindle của Amazon chỉ có màn hình đen trắng. Nếu muốn mọi người sẽ đọc ebook của mình trên một e-reader màn hình đen trắng thì hãy đảm bảo ảnh vẫn nhìn tốt với hai màu đen và trắng.

Thiết kế ebook trong Word

Trong Word, người dùng có thể lưu file định dạng doc, pdfhtml sau đó sử dụng những chương trình khác để chuyển đổi file thành định dạng mình cần.
Để bắt đầu, hãy tạo một Word document mới. Nếu định tạo nhiều sách, hãy thiết kế một bố cục cơ sở và lưu dưới dạng một Word template để sử dụng cho mỗi cuốn sách mới.

Thêm trang tựa đề

Bắt đầu với phần trang tựa đề, gõ tựa sách, tựa đề phụ và tên tác giả cùng những chi tết khác cần xuất hiện ở đây. Chọn kiểu văn bản và thay đổi định dạng bằng cách kích vào Title style trong Styles gallery trên thẻ Home của thanh công cụ Ribbon. Chọn kiểu văn bản cho đề mục con và kích Subtitles style (Nếu nó không xuất hiện trong danh sách Style gallery, nhấn Ctrl-Shift-S) để hiển thị hộp thoại Apply Styles, gõ Subtitle vào trường và kích Apply).
trang tựa đề
Chọn và định dạng lại tất cả văn bản khác trên trang đề mục. Chẳng hạn như, người dùng có thể chọn style Emphasis cho phần tên tác giả và các thông tin khác.
Nếu một style không định dạng văn bản theo ý người dùng, sửa style bằng cách kích chuột phải vào tên nó trong Style gallery và chọn Modify. Thay đổi phông chữ, kích thước chữ và thiết lập khác theo ý muốn trong hộp thoại Modify Style và kích OK để áp dụng thay đổi. Tất cả văn bản được định dạng với style đó sẽ thay đổi tự động để đúng với những thiết lập mới.

Tạo mục lục

Sau khi hoàn thành trang tựa đề, hãy bắt đầu một trang mới. Chọn page Layout/ Breaks/ Page để bắt đầu trang mới. Nếu trang tiếp theo này là mục lục sách, gõ tựa đề như “Mục lục” và sau đó chọn References/ Table of Contents/ Insert Table of Contents. Thiết lập Show Levels thành 1 hoặc 2 tùy thuộc vào có bao nhiêu cấp đề mục phải hiển thị, chọn một định dạng từ danh sách định dạng và kích OK 2 lần. Một thông báo "No table of contents entries found" sẽ xuất hiện do ta chưa tạo đầu vào cho mục lục. Về sau, khi sách đã có nội dung, người dùng có thể cập nhật mục lục bằng cách kích vào thông báo đó và nhấn F9.

Định dạng chương cho ebook

Tiếp theo, tạo một trang mới bằng cách chọn Page Layout/ Breaks/ Next Page. Bây giờ, ta đã sẵn sàng bắt đầu chương 1 của cuốn sách. Gõ tên chương trước và định dạng nó bằng cách sử dụng style Heading 1. Thêm các đề mục cấp 2 theo ý muốn và để định dạng là Heading 2. Word sẽ tự động cập nhật các đề mục vào mục lục.

Thêm tiêu đề và chân trang

Để làm cho các trang trông chuyên nghiệp hơn, hãy bổ sung tiêu đề hiển thị tựa sách và chân trang có đánh số trang. Kích thẻ Insert trên thanh công cụ Ribbon và kích Header. Từ danh sách, chọn Edit Header để tạo tiêu đề. Kích Header & Footer Tools/ Link to Previous để tách liên kết giúp cho các phần khác nhau có thể có tiêu đề khác nhau. Bây giờ gõ tựa sách vào tiêu đề và sử dụng một kiểu style để định dạng lại nó.
định dạng trang
Vẫn ở chương đầu, chọn Insert/ Footer/ Edit Footer và chọn lại Header & Footer Tools/ Link to previous (nếu cần) để tách liên kết giữa chân trang của phần này và chân trang phần trước. Kích vào khu vực chứa chân trang. Trên thanh công cụ Ribbon, kích Page Number/ Bottom of Page và sau đó chọn một style cho số trang (như Page Number 2).
Bây giờ, chọn Page Number/ Format Page Number và kích Start at. Thiết lập giá trị 1 và kích OK. Kích Close Header and Footer để trở lại document.

Định dạng chương kế tiếp

Để thiết lập chương kế tiếp, chọn Page Layout/ Breaks/ Page và tiếp tục thêm tựa đề chương, đầu đề con. Định dạng sử dụng cùng style như ở chương 1. Làm tương tự cho các chương còn lại.
Để kiểm tra mục lục, kích vào bên trong phần mục lục rồi nhấn F9 để cập nhật cho nó.

Lưu thành template để có thể sử dụng lại

Để lưu dạng thiết kế thành một template, chọn File/ Save As và trong danh sách xổ xuống "Save as type", chọn Word Template (*.dotx). Kích Templates dưới tên ‘Microsoft Word’ trong góc trên cùng bên trái của hộp thoại Save As. File sẽ được lưu trong thư mục Templates. Gõ tên cho template và kích Save.
Để tạo một ebook mới theo template này, chọn File/ New/ My Templates và sau đó chọn template đã tạo từ danh sách Personal Templates. Kích OK.

Lưu ở nhiều định dạng khác

Sau khi hoàn thành xong cuốn sách và muốn lưu nó dưới định dạng đặc biệt khác, trước hết hãy lưu nó dưới một định dạng gốc có trong Word. Nếu bạn cần một file dạng rtf hay html, chọn File/ Save As và chọn Rich Text Format (*.rtf) hoặc Web Page (*.htm; *.html) từ danh sách Save As. Gõ tên file và kích Save.
Nếu bạn cần một file pdf, chọn File/ Save & Send/ Create PDF/XPS document và kích nút Create PDF/XPS. Gõ tên ebook và chọn tùy chọn tối ưu mong muốn rồi kích Publish.
Công cụ Word cho người dùng nhiều tùy chọn để thay đổi định dạng một ebook đầu ra dưới dạng pdf hay chuyển đổi nó sử dụng trình chuyển đổi trực tuyến hoặc phần mềm tải về máy. Trông thì có vẻ phức tạp, nhất là trong lần đầu thực hiện. Chúng tôi khuyến nghị người dùng nên áp dụng cho một hay hai chương sách trước để kiểm thử template thiết kế cùng phương pháp đỏi định dạng mong muốn để đảm bảo mọi thứ vận hành như ý muốn trước khi đầu tư nhiều thời gian và công sức vào định dạng toàn bộ tài liệu.
Mặc dù không phải là công cụ có thể tạo ra mọi định dạng ebook hiện hành, nhưng Word lại có bố cục tùy biến và linh hoạt, rất thuận tiện để định dạng sách. Hơn nữa, định dạng file doc được sử dụng rộng rãi do đó mà bạn có thể dễ dàng tìm thấy cách để chuyển nó sang bất cứ một định dạng ebook nào mà mình mong muốn.
NamNguyen (Theo PCWorld)

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Sự tiến hóa của thiết bị lưu trữ ngoài qua những dấu ấn thời gian

Ngành công nghiệp máy tính đã trải qua nhiều gian đoạn thăng trầm, có thứ đã lặng lẽ biến mất và cũng có thứ vẫn còn tồn tại đến ngày nay như là một tiêu chuẩn cho ngành công nghiệp CNTT. Thiết bị lưu trữ ngoài cũng vậy, nó đã bước qua những năm tháng lịch sử đầy “màu sắc” với đủ loại hình hài và kiểu dáng. Ngày nay, nhiều người trong chúng ta vẫn đang mang trên mình một thiết bị lưu trữ có dung lượng 32 hoặc 64 GB nhỏ nhắn và xin xắn như chiếc móc khóa với tên gọi là ổ đĩa USB flash là chuyện bình thường, đây là điều không tưởng ở những thập niên trước. Chúng ta hãy xem những dấu mốc phát triển quan trọng của ổ lưu trữ ngoài qua các giai đoạn thời gian.





Punch Card - Thẻ đục lỗ (1900 đến những năm 1950)
Năm sử dụng chính: 1900 đến những năm 1950
Dung lượng lưu trữ: 960 bit




Thẻ đục lỗ (hay còn được gọi là IBM Card hoặc Hollerith Card) là tờ giấy mà lưu trữ thông tin dưới dạng các lỗ đục lỗ trong một mẫu đặc biệt. Được phát triển vào năm 1725 phục vụ cho ngành công nghiệp dệt vải, thẻ đục lỗ được thay đổi để lưu trữ dữ liệu vào cuối năm 1800 bởi Hermann Hollerith và được sử dụng như một thiết bị lưu trữ cho hãng IBM. Phiên bản thẻ đục lỗ của Hollerith bao gồm 80 cột có chứa 12 vị trí đục lỗ, cho phép dung lượng lưu trữ tối đa 960 bit. Thẻ đục lỗ đạt đến đỉnh cao của chúng bằng việc sử dụng như các thiết bị lưu trữ trong những năm 1930-1950. Sau đó chúng dần được thay thế bằng băng từ.

Băng từ (Những năm 1950 đến nay)
Năm sử dụng chính: những năm 1950 đến nay
Dung lượng lưu trữ: 184Kb – 5 Terabyte (TB)





Vào năm 1951, chiếc máy tính thương mại đầu tiên của Mỹ UNIVAC I sử dụng hệ thống băng từ UNIVSERVO I làm thiết bị lưu trữ chính. Cuộn băng từ có chiều dài 1200 foot (tương đương 365.76m) này có thể ghi 128 bit/inch trên 8 rãnh với tốc độ dữ liệu đạt 12 800 ký tự/giây. Nó có một khả năng lưu trữ lớn chưa từng có vào thời điểm này: 184 KB. Băng từ lưu trữ vẫn còn phổ biến trong những thập kỷ qua và hiện nay loại lưu trữ này chứa đến đến 5 TB dữ liệu. Ngay cả cơ quan nghiên cứu hạt nhân Châu Âu CERN cũng có một hầm băng từ tự động để lưu trữ dữ liệu của máy Gia Tốc Hạt Lớn LHC -Large Hadron Collider.

Ổ đĩa Mềm 8 inch (1971-1979)
Năm sử dụng chính: 1971-1979
Dung lượng lưu trữ: 100 KB- 1 MB





Năm 1971, IBM đi tiên phong trong việc sử dụng đĩa mềm 8-inch để lưu trữ với khả năng ban đầu khoảng 100 KB. Gần như lớn như là một chiếc bánh pizza 1 người ăn, nó có vẻ ngoài lạ mắt và được cấu tạo với lõi là lớp phim từ tính hình tròn mỏng được gắn vào trong một hộp nhựa hình chữ nhật. Vào cuối những năm 1970, thiết kế này cũng không không có gì thay đổi nhưng những tiến bộ trong công nghệ đã làm tăng không gian lưu trữ của nó lên đến gần 1 MB.

Đĩa mềm 5.25 inch (1976-1982)
Năm sử dụng chính: 1976-1982
Dung lượng lưu trữ: 100 KB-1.2 MB





Ổ đĩa mềm 5.25-inch được phát triển vào năm 1976 bởi hãng sản xuất thiết bị đầu cuối cho máy tính Shugart Associates. Tương tự như kiểu dáng của đĩa mềm 8-inch nhưng nó có kích thước nhỏ hơn 5.25-inch và loại này đã nhanh chóng trở thành tiêu chuẩn cho các máy tính cá nhân gia đình., Dung lượng lưu trữ của nó cũng giống như đàn anh phía trước là 1.2 MB.

Ổ đĩa mềm 3.5 inch (1982 - 2005)
Năm sử dụng chính : 1982-2005
Dung lượng lưu trữ: 400 KB-1.44 MB



Đĩa mềm 3.5 inch đã được Sony giới thiệu đầu tiên trong năm 1980. Không giống như người tiền nhiệm 8-inch và 5.25-inch, đĩa 3.5-inch sử dụng một hộp bảo vệ cứng và miếng trượt bằng kim loại để bảo vệ các đĩa từ bên trong. Nó có thể chứa tới 1.44 MB dữ liệu. Ổ đĩa 3.5 inch nhanh chóng trở thành một chuẩn công nghiệp mới và cùng tồn tại trong một thời gian dài với đĩa CD (Compact Disk) và ổ đĩa Zip.

Đĩa CD – Compact Disk (Những năm 1980-đến nay)
Năm sử dụng chính: Năm 1985 -đến nay
Dung lượng lưu trữ: 550 MB - 700 MB





Compact Disc (CD) ban đầu được chế tạo cho lưu trữ âm thanh kỹ thuật số vào năm 1982. Nó được giới thiệu như là một thiết bị lưu trữ máy tính với chế độ chỉ đọc read-only (CD-ROM) bởi Philips và Sony vào năm 1985, họ cũng phát triển đĩa CD có thể ghi dữ liệu (CD-R) vài năm sau đó. Đĩa CD được cải thiện hơn các đĩa mềm trước đó bằng cách sử dụng tia laser để đọc và ghi dữ liệu lên đó chứ không phải là dùng các cuộn dây từ tính. Dung lượng rất ấn tương ban đầu của đĩa CD là 550 MB dữ liệu. Tuy nhiên, điểm hạn chế của nó là các CD-R có giá cao và chỉ được ghi một lần vì thế nhiều người vẫn tiếp tục sử dụng đĩa mềm 3.5-inch như là một giải pháp tốt nhất. Sau đó,Đĩa CD-RW được giới thiệu nhưng nó không bao giờ thực sự được cất cánh.

Đĩa Zip (1994-2003)
Năm sử dụng chính: 1994-2003
Dung lượng lưu trữ: 100 MB-750 MB




Đĩa Zip được phát triển bởi hãng Iomega vào năm 1994 như một sự thay thế cho đĩa mềm 3.5 inch dung lượng tương thấp và CD-R giá cao. Nó được cấu tạo từ các đĩa từ PET tương tự như ổ đĩa mềm. Ban đầu chỉ giới hạn 100 MB dung lượng lưu trữ, sau đó đĩa Zip nhanh chóng nhảy vọt lên đến 750 MB. Tuy nhiên sau đó hầu hết mọi người ngừng sử dụng đĩa Zip vì giá đĩa CD-R giảm mạnh vào đầu những năm 2000.

Đĩa Jaz (1995-2002)
Năm sử dụng chính: 1995-2002
Dung lượng lưu trữ: 1 - 2 GB



Ổ đĩa Jaz đã được giới thiệu bởi hãng Iomega trong năm 1995 như là một sự thay thế đĩa ZIP với dung lượng cao hơn. Dựa trên công nghệ ổ đĩa cứng, đĩa Jaz có thể lưu trữ ấn tượng đến 2 GB dữ liệu. Thật không may cho Iomega, đĩa Jaz không được đón nhận nồng nhiệt bởi những người dùng máy tính chủ yếu là do mức giá cao và yêu cầu giao tiếp SCSI.

DVD (Năm 1995-đến nay)
Năm sử dụng chính: Năm 1995-đến nay
Dung lượng lưu trữ : 4.7 -17.08 GB



Được ra đời vào năm 1995 bởi Toshiba và sau đó được hỗ trợ bởi Philips và Sony. Digital Versatile Disc (DVD) thành công hơn CD rất nhiều. Có dung lượng lưu trữ ​​4.7 GB với đĩa DVD 1 mặt và loại DVD 2 mặt dung lượng 17.08 GB ít được sử dụng hơn.

SuperDisk (1997-1999)
Năm sử dụng chính: 1997-1999
Dung lượng lưu trữ: 120 MB-240 MB





Hãng 3M của tập đoàn Imation ra mắt SuperDisk LS-120 vào năm 1997. SuperDisk là một đĩa "lai" dựa trên kiểu lưu trữ mà kết hợp giữa công nghệ đĩa mềm và công nghệ đĩa quang học. SuperDisk có một dung lượng lưu trữ ban đầu là 120 MB, tuy nhiên sau đó 3M phát hành LS-240 với dung lượng lên đến 240 MB. Mặc dù SuperDisk có những điểm độc đáo ở chỗ là nó cũng có thể đọc và viết đĩa mềm 3.5 inch nhưng nó vẫn không theo kịp do sự phổ biến của ổ đĩa Zip và đĩa CD.

Thẻ SmartMedia Card - MMC (1995-2004)
Năm sử dụng chính: 1995-2004
Dung lượng bộ nhớ: 2 MB -128 MB





Thẻ SmartMedia Card - MMC được phát triển bởi Toshiba trong năm 1995, ban đầu gọi chúng là Thẻ Đĩa Mềm Trạng Thái Rắn (SSFDC). Chúng sử dụng bộ nhớ NAND để lưu trữ lên đến 128 MB. Mặc dù thẻ SmartMedia chủ yếu trở thành kho lưu trữ cho máy ảnh kỹ thuật số và hiện này không còn được sử dụng nhưng chúng vẫn đại diện cho một bước tiến quan trọng trong quá trình tiến hóa của thiết bị lưu trữ và chúng được coi như là thiết bị lưu trữ quan trọng đầu tiên dùng công nghệ NAND.

Thẻ nhớ Kỹ Thuật Số An Toàn – SD Card ( năm 1999 đến nay)
Năm sử dụng chính :1999 đến nay
Dung lượng lưu trữ: 1 MB-128 GB



Được giới thiệu bởi Hiệp Hội Thẻ Nhớ SD vào năm 1999, thẻ nhớ Secure Digital (SD) được thiết kế đặc biệt để chịu được việc tháo lắp thường xuyên của người dùng từ các thiết bị như máy ảnh kỹ thuật số, máy chơi video game và điện thoại di động. Chúng cũng trở nên phổ biến như là một thiết bị lưu trữ máy tính và tiếp tục được sử dụng đến ngày hôm nay. Dung lượng lưu trữ ban đầu của chiếc thẻ nhớ SD tiêu chuẩn chỉ có 1MB-4 MB. Nhưng những chiếc thẻ SD bây giờ có dung lượng lên đến 128 GB và có một số thông tin cho rằng chúng sẽ sớm đạt đến dung lượng 1 TB (Thẻ SDXC hỗ trợ lên đến 2TB).

Ổ đĩa USB Flash (Năm 2001-đến nay)
Năm sử dụng chính: Năm 2000-đến nay
Dung lượng lưu trữ: 8 MB-256 GB


Được giới thiệu bởi IBM và công ty Trek Technologies vào năm 2000, ổ đĩa USB Flash sử dụng bộ nhớ flash để lưu trữ dữ liệu. Nó nhanh chóng trở thành một chuẩn công nghiệp do kích thước nhỏ và tính linh hoạt. Đầu tiên nó chỉ lưu trữ được 8 MB dữ liệu và hiện nay ổ đĩa USB flash có thể lưu trữ lên đến 256 GB dữ liệu.




Shoptinhoc (Theo Tom'sHardware)

Bài đăng phổ biến