Thứ Tư, 11 tháng 8, 2010

GetMusic 1.22: Tải kho nhạc, clip Zing, NhacCuaTui, YouTube, BlogRadio

(Phần mềm Việt) Với GetMusic, bạn có thể “làm chủ” cả kho nhạc, video clip từ Zing, NhacCuaTui, YouTube, BlogRadio.

Giao diện GetMusic được bố trí thành bốn thẻ tượng trưng cho bốn dịch vụ giải trí trực tuyến: Zing MP3, NhacCuaTui, YouTube, Blog Radio. 1. Zing MP3
Để tìm kiếm bài hát, bạn nhập tên bài vào hộp Tìm kiếm rồi nhấn nút Tìm kiếm bên cạnh. Danh sách các bài hát tìm được sẽ hiển thị phía dưới. Bạn chỉ việc nhấp đôi vào một bài bất kỳ để thưởng thức (hoặc nhấn nút Nghe bài hát bên phải). Hộp tìm kiếm bài hát của chương trình được thiết kế rất giống với website Zing MP3, nên bạn có thể tìm theo tên bài hát, ca sĩ, album hoặc lời nhạc tùy thích.



Trong khi nghe nhạc, bạn có thể nhấn nút Mở lời nhạc để xem lời bài hát và “hòa giọng” cùng ca sĩ.



Thay vì chọn từng bài, bạn có thể lập sẵn danh sách các bài hát cần nghe bằng cách: đánh dấu kiểm vào bài bất kỳ, nhấn chuột phải vào bài đó và chọn mục Nghe bài hát đã chọn. Xong, bạn sử dụng chức năng tìm thêm các bài hát khác. Để thêm một bài vào danh sách, bạn nhấp chuột phải và chọn mục Chọn thêm bài hát. GetMusic sẽ tự động phát lần lượt các bài mà bạn đã chọn.



Ngoài ra, bạn có thể gom các bài yêu thích vào Danh sách yêu thích để nghe lại dễ dàng hơn. Trước hết, bạn nhấn chuột phải vào một bài bất kỳ và chọn Xem danh sách. Trong hộp thoại Danh sách yêu thích hiện ra hiển thị các bài hát ưa thích, bạn tạo thêm danh sách mới bằng cách nhấn nút Quản lý danh sách, đặt tên cho danh sách vào ô trống, rồi nhấn Thêm. Xong, bạn nhấn Đóng quản lý DS để trở lại giao diện chính của GetMusic.



Tại đây, bạn nhấn nút Chọn danh sách ở góc trái và chọn danh sách bài hát cần dùng. Khi cần thêm một bài vào danh sách đã chọn, bạn nhấn chuột phải vào tên bài, chọn mục Thêm vào danh sách. Khi cần xem lại các bài yêu thích, bạn chọn Xem danh sách.



Bên cạnh tính năng tìm kiếm và nghe nhạc, chương trình còn hỗ trợ tải nhạc kết hợp với trình Internet Download Manager (IDM). Đầu tiên, bạn nhấn nút Options trên giao diện IDM, đánh dấu vào ô Automatically start downloading of URLs placed to clipboard rồi nhấn OK.



Khi cần tải bài hát về máy, bạn nhấn nút Tải bài này. Ngay lập tức, IDM sẽ “bắt link” và tải về máy tính giùm bạn. Nếu muốn tải cùng lúc nhiều bài, bạn đánh dấu kiểm vào chúng rồi nhấn nút Tải danh sách phía trên. Trên hộp thoại của IDM hiện ra, bạn nhấn Check All rồi nhấp OK để tải hàng loạt bài hát. Nếu muốn chỉ định thư mục chứa file tải về, bạn đánh dấu vào ô All files to one directory rồi nhấn Browse và chọn tìm thư mục đó.



Không chỉ tìm và tải nhạc, GetMusic còn “cung cấp” thêm cho bạn kho video clip trên Zing MP3 và Zing Video. Bạn nhấn vào biểu tượng Video phía trên (bên cạnh Audio) để chuyển sang chế độ xem video clip. Tại đây, bạn nhập tên video clip cần tìm vào ô trống và nhấn Tìm kiếm. Chương trình hỗ trợ bạn tìm từ một trong hai nguồn: Video (tìm trong Zing Video), Video clip (tìm clip nhạc trong Zing MP3).



2. NhacCuaTui

Thẻ NCT cho phép bạn tìm kiếm nhạc, video clip từ website http://nhaccuatui.com. Cách tìm kiếm và tải bài hát tương tự như Zing MP3. Bên cạnh hộp tìm kiếm có các biểu tượng tương ứng với từng thể loại nhạc để bạn lựa chọn dễ dàng hơn: Top chủ đề (nhạc mới, nóng), Nhạc trẻ, Nhạc trữ tình, Nhạc thiếu nhi,…



3. YouTube
Bạn nhập từ khóa clip cần xem vào ô Tìm kiếm và nhấn Enter để chương trình tìm và hiển thị kết quả phía dưới (kèm theo số lượt xem và ngày đăng của clip). Bạn chỉ việc nhấp đôi vào clip và thưởng thức thông qua khung phát video clip bên trái.



4. Radio Blog
Nếu yêu thích nghe các câu chuyện lãng mạn trên kênh radio trực tuyến http://vietnamnet.vn/blogviet/blogradio, bạn chọn thẻ hình trái tim trên giao diện chính của GetMusic. Tiếp đó, bạn nhấn nút Tải lại ở góc phải phía dưới để cập nhật danh sách các câu chuyện mới nhất, rồi nhấp đôi vào chuyện cần nghe. Để tải câu chuyện về máy dưới định dạng .wma, bạn nhấn nút Tải về phía trên.



Cấu hình chương trình
Bạn nhấn vào biểu tượng hình cờ lê (cạnh biểu tượng Blog Radio) để cấu hình lại GetMusic. Tại đây, bạn có thể thay đổi hình nền giao diện bằng cách nhấn vào mũi tên xổ xuống tại mục Hình nền rồi chọn lại hình khác. Nếu muốn tự tùy biến màu sắc giao diện (không dùng hình nền), bạn bỏ chọn tại ô Sử dụng hình nền và lần lượt chọn màu sắc cho từng thành phần phía dưới. Xong, bạn nhấn Lưu (hoặc nhấn Mặc định khi muốn trở về thiết lập ban đầu).
Các phím tắt điều khiển âm lượng nhạc, chuyển bài được hiển thị trong khung Các phím tắt khi nghe nhạc để bạn thao tác nhanh hơn. Nếu không muốn tải file bằng IDM, bạn bỏ chọn trước dòng Download với Internet Download Manager, GetMusic sẽ dùng trình tải file mặc định của trình duyệt để tải bài hát về máy.



GetMusic 1.2.2 là phần mềm miễn phí được tác giả Tăng Thanh Tâm xây dựng, tải bản cài đặt tại http://www.mediafire.com/?n6g8ki2j8db (dung lượng 12,48MB, tương thích Windows XP/Vista/7), hoặc bản chạy trực tiếp tại http://www.mediafire.com/?z3nx8una631 (dung lượng 37,19MB, chỉ hoạt động trên Windows 7).
Mọi thắc mắc và góp ý về phần mềm, xin liên hệ trieutulong89kg@yahoo.com.
Phương Trúc

Khám phá: mọi Rubik có thể giải trong không quá 20 bước


Các nhà khoa học, với sự trợ giúp của Google, đã chứng minh được mọi vị trí của Rubik 3x3 đều có thể giải được trong không quá 20 bước. Đây được xem như là kết quả cuối cùng trong các nghiên cứu về Rubik 3x3, vì từ 15 năm trước, người ta đã biết rằng có những vị trí cần tối thiểu 20 bước để giải.

Kết quả trên nói rằng, trong 43.252.003.274.489.856.000 (43 tỉ tỉ) vị trí khác nhau của khối Rubik 3x3, bất kì vị trí nào cũng có thể giải trong không quá 20 bước. Kết quả này có được nhờ sự tài trợ máy chủ của Google. Các máy chủ đã giải bài toán này trong thời gian nhàn rỗi (tương tự như dự án Folding@Home). Tổng thời gian sử dụng là 35 năm CPU (giải 55 triệu bài toán nhỏ, mỗi bài khoảng 20 giây). Thông tin cụ thể được nhóm tác giả đăng tải tại cube20.org
Cuộc tìm kiếm con số 20 này khởi đầu từ những năm 1980. Người ta chứng minh được cần tối thiểu 18 bước, vì nếu chỉ dùng 17 bước, tổng số vị trí tạo ra của 17 bước này còn nhỏ hơn số vị trí của Rubik. Cận trên, vào những năm 1980 về trước, vào khoảng 80, dựa vào các thuật toán giải Rubik. Năm 1995, người ta tìm ra vị trí siêu lật (superflip): đúng góc, cạnh lật, cần đến 20 bước. Kể từ đó, cận trên liên tục được giảm dần, và vào tháng trước đã được chứng minh rằng nó bằng với cận dưới: 20 bước.

Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2010

Làm Ứng Dụng PHP Chỉ Cần 3 Phút (Tool Sinh Code và FrameWork)

Hi mọi người sau một thời gian Coding PHP tôi đã nhận ra 1điều làm ứng dụng thực chất ra là chỉ là làm các chức năng list,tìm kiếm, thêm,sữa, xóa,phân trang.

-Tôi đã nghiên cứu mô hình MVC cụ thể là Zend FrameWork. Và thấy được lợi điểm và yếu điểm của mô hình MVC này.

-Tôi cũng đã thấy sự đồng nhất về bản chất của các chức năng màmình phải viết thực chất lập trình viên PHP phải làm đi làm lại một công việc đã làmrồi nhiều lần điều này làm mất thời gian, và gây sự nhàm chán trong công việc.Tại sao chúng ta không tạo ra một công cụ Sinh Code (Code Generator) để giải quyết vấn đề này ?

(ví dụ cụ thể là bạn phải làm các chức năng danh mục trongmột ứng dụng, trong khi đó thực chất là bạn phải làm các công việc logic giốngnhau về bản chất)
-Từ Đó tôi đã tạo ra 1 FrameWork cho mình đồng thời tạo luôn 1tool sinh code (Code Generator) bạn chỉ cần click click và click để tạo ra ứng dụng.
Quá dễ dàng

FrameWork là sự kết hợp của PHP OOP+MVC+Smarty+Jquery Nghe thấy lu bu quá phải không nhưng không có gì bạn phải sợ
vì đây là các công nghệ đang thịnh hành hiện nay, trước sau gì bạn cũng phải nghiên cứu chúng thôi...Tôi cam đoan khi bạn hiểu FrameWork này bạn sẽ làm 1 CMS cực kỳ nhanh (tôi mất khoảng 3 ngày làm 1 CMS cơ bản cho riêng mình). hãy tự tin là mình sẽ làm được.

bạn hãy xem video này bạn sẽ cảm thấy sự lợi hại của công cụ sinh code (Code Generator) mà tôi đã tạo ra để hổ trợ cho FrameWork này

Lợi Điểm:Không cần coding bạn chỉ cần Click để tạo ứngdụng,rút ngắn thời gian làm ứng dụng gần như là không tốn, chỉnh sửa dể dàng,framework dể hiểu, hổ trợ Xuất Excel dể dàng.
Nhược Điểm:bạn phải biết cơ bản về Smarty và hướng đối tượngtrong PHP.
Công Cụ Sử Dung:
Dreamweaver Cs4 Dùng Viết View
PHP Designer 7 Dùng Viết Model
Navicat Mysql Quản Lý Mysql
Wamp Server Server Apache Và Mysql

Bộ công cụ lập trình PHP&Mysql,FramWork,Tool Sinh Code (Code Generator) đều nằm ở đây

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2010

Bốn website cho lưu trữ miễn phí hơn 10 GB

Hiện nay có rất nhiều website cho phép lưu trữ miễn phí, nếu bạn dùng chúng để trữ phim, nhạc hay các file phần mềm “nặng ký” thì cần dung lượng lớn và tốc độ download. Bốn dịch vụ lưu trữ sau được xếp đứng đầu trong các sản phẩm cùng tính năng.

4shared: Địa chỉ  www.4shared.com, có tốc độ tải khá nhanh cùng dung lượng miễn phí lên tới 10 GB. 4shared hỗ trợ bạn thay đổi file bị lỗi mà không cần đổi link download. Muốn sử dụng tính năng này, sau khi upload file lên mạng, hãy mở link của file đó, chọn thẻ Update rồi tìm đến file mới muốn thay thế, bấm Open > Upload và chờ 4shared “thay ruột” cho link của bạn. 
Windows Live SkyDrive: Địa chỉ http://skydrive.live.com, có dung lượng miễn phí  đến 25 GB và tiếp tục tăng lên trong tương lai. Bạn có thể liên kết nó với một thư mục trong Windows và khi cần upload file lên mạng, chỉ cần kéo thả file vào trong thư mục đó là mọi thứ sẽ được chuyển đi. Ngoài ra, các file văn bản office có thể được chỉnh sửa ở bất kỳ máy tính nào thông qua trung gian Windows Live SkyDrive.
Để tạo thư mục Upload trong máy tính, hãy nhấn chọn liên kết View synced folders > View all synced folders, sau đó nhấn chọn liên kết Install Windows Live Syn, nhấn nút Download Now để tải và cài đặt công cụ bổ trợ vào máy. Để chia sẻ file Office trên SkyDrive, bạn  hãy mở tài liệu đó lên, vào File > Share > Save to SkyDrive rồi chờ để tài liệu được chuyển lên.
Media Fire: Địa chỉ www.mediafire.com. Media Fire hiện giờ là người hùng của các dịch vụ lưu trữ file bởi nó cung cấp cho mỗi tài khoản một ổ đĩa trên mạng không giới hạn dung lượng, tốc độ download cực cao. Với Media Fire, bạn có thể Upload to MediaFire mà không cần tài khoản, muốn thế, trong trang web, bạn nhấn nút Add  File rồi đưa tài liệu của mình lên.
Humyo: Địa chỉ www.humyo.com. Với 10 GB lưu trữ các tư liệu của riêng mình, tốc độ download tại trang web này chỉ kém hơn Media Fire một chút nhưng có hai tính năng cực kỳ độc đáo: Đầu tiên là khả năng upload bằng thao tác kéo thả file trong cửa sổ Drag & Drop Upload. Trong trường hợp bạn muốn tạo ổ đĩa ảo trong máy tính để tiện upload, hãy cài đặt công cụ Humyo SmartDrive từ địa chỉ http://tinyurl.com/35m95a6. Sau khi cài đặt, hãy mở ổ đĩa Humyo SmartDrive, kéo thả các file muốn upload vào là xong.
TRẦN ĐỨC TIẾN(Thế giới @)

Thứ Hai, 2 tháng 8, 2010

3-Tier, 3-Layer, MVC

3-Layered Architecture
This approach implies a division of responsibilities in logical components. They are:
  • Presentation, where input forms and results are rendered
  • Business, or also Domain Logic, where core application logic lives. Here it's all about business nouns: Customers, Invoices, Purchases, etc. No explicit references to rendering mechanisms or persistence ones are made here
  • Data Access, where all those concerns related with persistence mechanisms (database connections, tables, records, etc) take place
Although a physical distribution of these or other application components can arise, this is not mandatory. Actually the benefits this architecture style brings are maintenance and reusability
Maintenance, because every layer comprises a set of few, cohesive APIs (the Presentation layer, APIs like WinForms, or ASP.NET, maybe Atlas; the Data Access layer, possibly ADO.NET, System.Xml; the Business layer probably can be almost agnostic of platform APIs, except the basic ones like Collections, etc)
Reusability is possible as we can add a new presentation layer for mobile devices, change the persistence mechanism by another database, possibly some static data in XML; but changes in one layer shouldn't impact on the others
For a deeper discussion on 3-Layered Architecture, I suggest the chapter ad hoc at the book Enterprise Solution Patterns (MS Patterns and Practices): http://msdn.microsoft.com/architecture/default.aspx?pull=/library/en-us/dnpatterns/html/ArcThreeLayeredSvcsApp.asp

3-Tier Architecture
In this approach, we privilege a physical division of activities. Let's see:
  • Client (aka Front-end, Channels), consistent in a set of different hardware and software infrastructure where the application user interface (UI) can be executed
  • Application Server (aka Middleware), ranging from just one server up to a farm of them, where client requirements arrive through transport and message protocols (HTTP, SMTP, SOAP and other XML-based, etc)
  • Back-end, a set of heterogeneous supporting infrastructures. We can find examples like databases (for persistence ends), or complex legacy systems on a mainframe infrastructure
The application server here plays a key role as a concentrator of low-level services (communication, security, etc), thus joining different channels in their access to enterprise back-ends
This approach brings Scalability, Centralized Security and Fault Tolerance. A better explanation of this approach is available in the same book, at http://msdn.microsoft.com/architecture/default.aspx?pull=/library/en-us/dnpatterns/html/ArcThreeTieredDistribution.asp

Model-View-Controller
We have already reviewed this behavioral architecture pattern at Starting with Model/View/Controller (MVC) Architecture Pattern (http://www.skyscrapr.net/blogs/solution/archive/2006/08/07/262.aspx). In brief words, this time the three components are
  • The View, although it seems that we are talking about the Presentation layer of the 3-Layered architecture, or the Client of the 3-Tier architecture, this version of view just carry presentation logic without event handling. Such later responsibility belongs to
  • The Controller, a component which receives Actor actions thru the View and motivates System responses in the same way envisioned in the Use Case document (a two column document enlisting stimulus/responses). These responses almost always involve
  • The Model, the status of the system, its business entities and the business rules which govern itself
This pattern is very useful to comprehend and implement behavioral aspects of the user interface, and its relationship with the rest of the system. It permits keep low the coupling between UI technologies and business logic together with persistence mechanisms. A deeper discussion is available at http://msdn.microsoft.com/architecture/default.aspx?pull=/library/en-us/dnpatterns/html/ArcThreeTieredDistribution.asp

Kiến trúc 3 lớp và MVC pattern (Phần 2)

So sánh với MVC

Xem thêm phần 1 : Kiến trúc 3 lớp và MVC pattern

Phương pháp thiết kế MVC bắt nguồn từ việc phát triển giao diện người dùng trong ngôn ngữ lập trình Smalltalk, đây là một trong những phương pháp thiết kế thành công nhất trong các phương pháp thiết kế hướng đối tượng. Hiện nay, MVC được dùng rộng rãi trong nhiều hệ thống phần mềm.

- Model: Model được giao nhiệm vụ cung cấp dữ liệu cho cơ sở dữ liệu và lưu dữ liệu vào các kho chứa dữ liệu. Tất cả các nghiệp vụ logic được thực thi ở Model. Dữ liệu vào từ người dùng sẽ thông qua View đến Controller và được kiểm tra ở Model trước khi lưu vào cơ sở dữ liệu. Việc truy xuất, xác nhận, và lưu dữ liệu là một phần của Model. Do có 2 vai trò tương đối tách biệt cho nên một Model thường được tách thành các lớp có các domain xử lý khác biệt:
+ Business logic thường là xử lý rule hay policy của nghiệp vụ cũng như business workflows.
+ Domain data: Cung cấp/lưu trữ dữ liệu và việc chuyển đổi dữ liệu thành các dạng khác nhau theo yêu cầu
- View: View hiển thị các thông tin cho người dùng của ứng dụng và được giao nhiệm vụ cho việc nhận các dữ liệu vào từ người dùng, gửi đi các yêu cầu đến controller, sau đó là nhận lại các phản hồi từ controller và hiển kết quả cho người dùng. Các trang HTML, JSP, các thư viện thẻ và các file nguồn là một phần của thành phần View.
Trong các web framework, nó gồm 2 phần chính:
+ Template file định nghĩa cấu trúc và cách thức trình bày dữ liệu cho user. Ví dụ như layout, color, windows …
+ Logic xử lý cách áp dụng dữ liệu vào cấu trúc trình bày. Logic này có thể bao gồm việc kiểm tra định dạng dữ liệu, chuyển đổi định dạng dữ liệu sang một sạng dữ liệu trung gian, lựa chọn một cấu trúc hiện thị phù hợp.
- Controller: controller đảm nhiệm việc cập nhật bộ phận hiển thị (View) khi cần thiết. Bộ điều khiển này nhận dữ liệu nhập từ người dùng, truy xuất các thông tin cần thiết từ mô hình trong (Model), và cập nhật thích hợp phần hiển thị (View). Giao diện với người sử dụng phần mềm được thiết lập nhờ sự tương tác qua lại giữa View và
Controller: hai bộ phận này chính là phần trình bày bên ngoài của đối tượng biểu diễn bên trong.
Martin Fowler chia MVC thành hai phiên bản là Passive View và Supervising Controller.

Trong mẫu Passive View, thành phần View được loại bỏ hoàn toàn các xử lý logic và tương tác đến Model. Thay vì vậy, nó chuyển giao các xử lý cho Controller đảm trách. Controller đảm nhận tương tác đến Model và cập nhật View khi có thay đổi từ Model. Controller là thành phần trung gian liên lạc giữa View và Model.

Trong mẫu Supervising Controller, View đầu tiên bắt lấy các sự kiện và sau đó chuyển giao cho Controller xử lý. Để cập nhật thay đổi từ Model, View dùng data-binding và Observer Pattern cho các xử lý đơn giản còn đối với các xử lý phức tạp sẽ nhờ đến Controller


So sánh MVC và 3-layer/tier:

Giống nhau:
- Cả hai đều để tách rời programming core/business logic ra khỏi những phụ thuộc về tài nguyên và môi trường.
- Trong một ứng dụng nhỏ, MVC thể hiện thế nào? Presentation thể hiện giống như chức năng của View và Controller. Business và Database thể hiện giống như chức năng của Model. Như thế nhìn ở góc độ này, thì MVC tương đương với 3-layer (tất nhiên có chồng chéo như hình vẽ)

Khác nhau:
Trong 3-layers, quá trình đi theo chiều dọc, bắt đầu từ Presentation, sang BL, rồi tới Data, và từ Data, chạy ngược lại BL rồi quay ra lại Presentation.

Còn trong mẫu Supervising Controller, dữ liệu được nhận bởi View, View sẽ chuyển cho Controller cập nhật vào Model, rồi sau đó dữ liệu trong Model sẽ được đưa lại cho View mà không thông qua Controller, do vậy luồng xử lý này có hình tam giác.



Gửi bởi MSDN
User Interface Process Components
Complex user interfaces often require many highly complex forms. To increase reusability, maintainability, and extensibility, you can create a separate user interface process (UIP) component to encapsulate dependencies between forms and the logic associated with navigating between them. You can apply the same concept to the dependencies, validation, and navigation between components of a single form. These UIP components are typically custom components that are based on design patterns such as Front Controller, Application Controller, and Mediator.
The interaction between UI and UIP components often follows the Model-View-Controller or Presentation-Abstraction-Controller pattern.
"Như vậy theo hướng dẫn của MSDN thì MVC thuộc UI Process Components trong Presentation Layer, chứ không phải là cách chia toàn bộ một application ra thành 3 layer là Model – View – Controller."
Thông thường khi áp dụng thì người ta kết hợp cả 2: MVC được áp dụng bên phía Client. Sau đó 3 tiers được áp dụng như bình thường trên hệ thống client-server. Việc có sử dụng hay là có bọc lẫn nhau giữa MVC và 3-tier là không hoàn toàn bắt buộc, ta có thể sử dụng MVC mà không cần đến 3-tier (với những ứng dụng nhỏ)
[right][size=1][url=http://congdongso.com/showthread.php?t=2782&p=7566&viewfull=1#post7566]Copyright © Cộng Đồng Số[/url][/size][/right]
 

Kiến trúc 3 lớp và MVC pattern

Bạn sẽ nghe nói đến thuật ngữ kiến trúc đa tầng/nhiều lớp, mỗi lớp sẽ thực hiện một chức năng nào đó, trong đó mô hình 3 lớp là phổ biến nhất. 3 lớp này là: Presentation, Business Logic, và Data Access. Các lớp này sẽ giao tiếp với nhau thông qua các dịch vụ(services) mà mỗi lớp cung cấp để tạo nên ứng dụng, lớp này cũng không cần biết bên trong lớp kia làm gì mà chỉ cần biết lớp kia cung cấp dịch vụ gì cho mình và sử dụng nó mà thôi.


Presentation Layer (PL)

Lớp này làm nhiệm vụ giao tiếp với người dùng đầu cuối (đơn giản là người sử dụng phần mềm) để thu thập dữ liệu và hiển thị kết quả hoặc dữ liệu thông qua các thành phần giao diện người sử dụng như Jtable trong Swing… Lớp này sử dụng các dịch vụ do lớp Business Logic Layer cung cấp.

Trong lớp này có 2 thành phần chính là User Interface Components và User Interface Process Components.
UI Components là những phần tử chịu trách nhiệm thu thập và hiển thị thông tin cho người dùng cuối.

UI Process Components: là thành phần chịu trách nhiệm quản lý các qui trình chuyển đổi giữa các UI Components. Ví dụ chịu trách nhiệm quản lý các màn hình nhập dữ liệu trong một loạt các thao tác định trước như các bước trong một Wizard…

Business Logic Layer (BLL)

Lớp này thực hiện các nghiệp vụ chính của hệ thống, sử dụng các dịch vụ do lớp Data Access cung cấp, và cung cấp các dịch vụ cho lớp Presentation. Lớp này cũng có thể sử dụng các dịch vụ của các nhà cung cấp thứ 3 (3rd parties) để thực hiện công việc của mình(ví dụ như sử dụng dịch vụ của các cổng thanh tóan trực tuyến như VeriSign, Paypal…).

Trong lớp này có các thành phần chính là Business Components, Business Entities và Service Interface.
Service Interface là giao diện lập trình mà lớp này cung cấp cho lớp Presentation sử dụng. Lớp Presentation chỉ cần biết các dịch vụ thông qua giao diện này mà không cần phải quan tâm đến bên trong lớp này được hiện thực như thế nào.

Business Entities là những thực thể mô tả những đối tượng thông tin mà hệ thống xử lý. Trong ứng dụng chúng ta các đối tượng này là các chuyên mục(Category) và bản tin(News) làm nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ quản lý chuyên mục và các bản tin (thêm, xóa, sửa, xem chi tiết, lấy danh sách…). Các business entities này cũng được dùng để trao đổi thông tin giữa lớp Presentation và lớp Data Access.

Business Components là những thành phần chính thực hiện các dịch vụ mà Service Interface cung cấp, chịu trách nhiệm kiểm tra các ràng buộc logic(constraints), các qui tắc nghiệp vụ(business rules), sử dụng các dịch vụ bên ngoài khác để thực hiện các yêu cầu của ứng dụng.

Data Access Layer (DAL)

Lớp này thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến lưu trữ và truy xuất dữ liệu của ứng dụng. Thường lớp này sẽ sử dụng các dịch vụ của các hệ quản trị cơ sở dữ liệu như SQL Server, Oracle,… để thực hiện nhiệm vụ của mình. Trong lớp này có các thành phần chính là Data Access Logic, Data Sources, Servive Agents).

Data Access Logic components (DALC) là thành phần chính chịu trách nhiệm lưu trữ vào và truy xuất dữ liệu từ các nguồn dữ liệu (JDBC trong Java)
Data Sources như RDMBS, XML, File systems…
Service Agents là những thành phần trợ giúp việc truy xuất các dịch vụ bên ngòai một cách dễ dàng và đơn giản như truy xuất các dịch vụ nội tại.





Việc tách lớp này có lợi khi sau này, bạn muốn thay đổi database từ MySql sang MSSql hoặc Oracle, bạn chỉ việc thay đổi lớp DAL mà không làm ảnh hưởng các lớp khác.
Theo hình vẽ, quy trình sẽ đi theo ngược chiều kim đồng hồ theo các bước sau:
1. Presentation layer yêu cầu BLL lấy dùm vài object, ví dụ thông tin 1 person.
2. BLL có thể thực hiện các kiểm tra (validation) (ví dụ, người dùng hiện tại có được phép gọi hàm này hay không?) và chuyển yêu cầu đến DAL.
3. DAL kết nối với database và yêu cầu lấy về record.
4. Khi tìm thấy record, database sẽ trả nó về DAL.
5. DAL gói (wrap/ map) database data vào một custom object (ở ví dụ này là object person) và trả nó về BLL.
6. Cuối cùng, BLL sẽ trả về object cho Presentation layer, và từ đó hiển thị lên web page.
MÔ HÌNH ỨNG DỤNG Client/Server 3 lớp(business logic 3-Tier)
Nhược điểm của mô hình 2 lớp:
- Tính toán tập trung ở phía Client (Fat client – Thin Server):
+ Khó nâng cấp vì phải cập nhật lại phần mềm ở toàn bộ các client.
+ Do mọi thao tác trên CSDL đều thông qua mạng giữa client và server nên tốc độ của hệ thống sẽ chậm đi.
- Tính toán tập trung ở phía Server (Fat Server – Thin Client):
+ Việc sửa đổi hoặc mở rộng sever trở nên không khả thi và tốn kém vì mã lệnh bị trộn giữa nghiệp vụ và cơ sở dữ liệu.
+ Server dễ bị quá tải do phải đáp ứng quá nhiều nhiệm vụ (cả bussiness logic và database). Nếu chia ra nhiều server thì dữ liệu bị phân tán.
Mô hình 3 lớp:
Mô hình này bổ sung một server tương tác giữa Client và Database Server gọi là Application Server.
-Client:
Là các web Browser đã có sẵn (như Internet Explorer, Firefox, Opera ...) và chỉ hiểu ngôn ngữ HTML (hiện các Browser mới hiểu thêm được cả XHTML, XML). Một Browser có thể dùng để truy cập nhiều trang web và không thể thực hiện chức năng xử lý tính toán nào.
-Application Server hay Web Server:
Web Server (máy phục vụ Web): máy tính mà trên đó cài đặt phần mềm phục vụ Web, đôi khi người ta cũng gọi chính phần mềm đó là Web Server.
Tất cả các Web Server đều hiểu và chạy được các file *.htm*.html, tuy nhiên mỗi Web Server lại phục vụ một số kiểu file chuyên biệt chẳng hạn như IIS của Microsoft dành cho *.asp và *.aspx, Apache dành cho *.php, Sun Java System Web Server của SUN dành cho *.jsp ...
-Thực hiện các yêu cầu mà Web Browser gởi tới.
- Kết quả thực hiện của các đối tượng chạy trên Web Server phải ở dạng HTML, XHTML, XML.
-Database Server (máy chủ cơ sở dữ liệu):
Máy tính mà trên đó có cài đặt Hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ (RDBMS). Chúng ta có một số RDBMS chẳng hạn như: SQL Server, MySQL, Oracle ... Thực hiện mọi thao tác trên cơ sở dữ liệu do Web Server yêu cầu.

Ưu điểm của mô hình 3 lớp:
- Hỗ trợ nhiều người dùng hơn.
- Loại bỏ hoàn toàn sự phụ thuộc của Client.
- Business logic được chứa trong lớp Application Server nên có những ưu điểm:
+ Khả năng bảo mật và an toàn hệ thống tốt hơn: Lớp GUI không hề chứa mã lệnh thao tác trực tiếp trên CSDL, mà chỉ chứa các yêu cầu phục vụ đến lớp thứ 2. Vì vậy nếu nhà phát triển phân tích và xây dựng các
phương thức phục vụ ở lớp business logic kỹ lưỡng và an toàn thì hệ thống sẽ đạt độ bảo mật rất cao.
+ Dễ mở rộng: bằng cách dùng nhiều Application Server (không dùng nhiều Database Server vì khi đó dữ liệu sẽ bị phân tán).
- Dễ quản lý: việc nâng cấp, sửa đổi có thể thực hiện ở tầng vật lý tương ứng.

Nhược điểm của mô hình 3 lớp:
- Tốn nhiều công sức cài đặt (nhiều server) hơn.

Lưu ý 3-layer và 3-tier là hai khai niệm khác nhau, nói đến layer là nói đến cách tổ chức ứng dụng (vd các package trong java), còn tier là ám chỉ sự tách bạch về mặt vật lý ( client - app server - data server).
3 tầng cũng chưa phải là nhiều. Hiện tại thì người ta còn chia nhỏ BLL ra thành nhiều tầng nữa. Do đó khái niệm đúng là ta dùng n-tier trong web application

Bài đăng phổ biến