Thứ Hai, 21 tháng 3, 2011

Mike Lazaridis: Cha đẻ của BlackBerry

Nhà sáng lập hãng Research In Motion (RIM) và linh hồn của những mẫu điện thoại thông minh nổi tiếng BlackBerry là Mihalis “Mihal” Lazaridis, còn gọi là Mike Lazaridis, sinh năm 1961 tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ.

Mike Lazaridis: Cha đẻ của BlackBerry
Bố của Mike là một người bán quần áo, và mẹ của ông là một thợ may. Năm 1966, gia đình ông chuyển sang định cư ở Canada.
Mike đã lớn lên trong hoàn cảnh gia đình và những người hàng xóm đều là những người lao động vất vả. Nhưng bố mẹ và thầy cô sớm nhận ra ông rất ham muốn hiểu biết, và họ đã khuyến khích niềm đam mê đó của ông. Lúc 4 tuổi ông đã xếp được hình chiếc máy nghe hát từ hình Lego, sau đó chế tạo thành công chiếc đồng hồ quả lắc lúc 8 tuổi. 12 tuổi, ông đã giành giải thưởng tại Thư viện Công Windsor vì đọc hết mọi cuốn sách khoa học trên giá sách.
Mike Lizaridis được mệnh danh là “bộ não lớn nhất trong hàng ngũ doanh nhân” của Canada. Lazaridis được báo chí Canada ca ngợi là một “hình mẫu điển hình của quốc gia, một người Canada đã thành công nhờ thông minh; và là một nhân cách tuyệt vời”. Cho đến nay, ông vẫn về nhà đọc sách cho con nghe và ăn tối với bố mẹ mỗi tuần.
Bài học kinh doanh đầu tiên
Mùa thu năm 1979, khi 18 tuổi, Mike Lazaridis đã đăng ký vào trường Đại học Waterloo với chuyên ngành khoa học máy tính. Trường Đại học Waterloo là nơi ươm mầm rất nhiều tài năng máy tính. Ngay cả nhiều nhân sự xuất sắc của tập đoàn Microsoft cũng khởi nguồn từ đây.
Nhưng Mike và những người bạn của ông nhanh chóng bị cuốn hút bởi công nghệ không dây. Ngay từ những năm đầu tiên bước chân vào cổng trường đại học, ông đã vừa đi học, vừa đi làm. Năm học đại học đầu tiên, Mike đã làm việc tại hãng sản xuất siêu máy tính mang nhãn hiệu Waterloo, công ty Control Data Corporation (CDC). Công việc của ông là nghiên cứu dò tìm những lỗi tự động và sửa chữa lỗi trong bộ nhớ máy tính.
Vừa làm việc, vừa học tập tại trường đại học sẽ mang lại cho bạn một cái nhìn hoàn toàn khác về những gì bạn được học, và cách ứng dụng chúng như thế nào”, Mike Lazaridis nói. Trong khi làm việc tại CDC, Mike đã học được bài học quan trọng về kinh doanh, có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp sau này của ông. CDC lúc đó đang lao đao vì sự cạnh tranh của các công ty Nhật Bản. Nền văn hóa tập đoàn của CDC bị hư hỏng, và Mike nhận ra vết nứt đầu tiên là khi các kỹ sư xuất sắc, thông minh phải tuân thủ hiệu lệnh của phòng marketing, tiếp thị - nơi chỉ cần những sản phẩm đơn giản để thu hút khách hàng. Rất nhiều kỹ sư lúc đó đã nổi giận đến nỗi họ bỏ việc chạy sang công ty khác ở Silicon Valley. Công việc của ông tại CDC cũng chấm dứt, và ông nhận ra rằng các công ty công nghệ cần phải nuôi dưỡng kỹ sư. “Nụ hôn của thần chết chính là khi bạn cho phép tung ra thị trường những sản phẩm làm lùn sự sáng tạo”, Mike nói.
Hoặc là học hoặc là kiếm tiền
Từ công việc tại CDC, Mike biết rằng ông đã có kỹ năng để tạo lập một sự nghiệp riêng. Vì thế ông bắt đầu dấn thân vào kinh doanh, ngay cả khi lúc đó nền kinh tế đang lâm vào suy thoái. Ông đã bán một số hệ thống màn hình Budgie của ông cho các cửa hàng địa phương. Ban đầu ông cố gắng hoàn thành cả công việc kinh doanh lẫn trường học. “Tôi đã cố gắng”, ông nhớ lại, “đạp xe đi làm và đi học, nhưng rồi tôi không thể. Công việc kinh doanh ngày càng phát triển, và tôi nhận ra rằng tôi phải chọn một thứ”.
Người bạn thân từ thuở học lớp 6 của ông, Doug Fregin, lúc đó đang học trường Đại học Windsor, đã đồng ý tham gia kinh doanh cùng với Mike. Vụ làm ăn lớn đầu tiên của họ là khi hãng General Motors Canada nghe về màn hình hiển thị tin nhắn không dây mà Mike đang làm, đã ngỏ ý muốn thử chúng trong dây chuyền lắp ráp của GM, và sẵn sàng trả tiền thử nghiệm.
Bố mẹ của Mike ở Windsor hoàn toàn không hài lòng với quyết định của ông, và yêu cầu ông xem xét lại việc bỏ học, nhưng cuối cùng họ đã ủng hộ ý kiến của ông. Khi ông có thể vay một khoản nợ 15.000 USD của Government of Ontario New Ventures, họ đã vét nốt số tiền tiết kiếm của mình cho cậu con trai 23 tuổi. Vì thế, vào tháng 2/1985, Mike Lazaridis và Doug Fregin đã thành lập Research In Motion (RIM), Inc.
Họ đã thuê một căn phòng rộng 500 bộ vuông. Ông chủ đất đầu tiên của RIM nói rằng “hai đứa trẻ đến thuê văn phòng và làm gì tôi cũng chẳng biết nữa, chỉ biết chúng có một cái máy tính”.
Việc thứ hai là phải tìm một nhà lập trình giỏi, vì thế họ đã đăng tuyển lên báo địa phương. Họ nhanh chóng chọn được Mike Barnstijn, sau đó trở thành phó chủ tịch của RIM. Barnstijn cũng vừa hoàn thành bằng cử nhân khoa học máy tính, nhớ lại: “Chúng tôi rất hợp nhau, cùng đam mê công nghệ và có nền tảng học vấn giống nhau, có mối quan tâm về xe hơi. Tôi là nhân viên toàn thời gian đầu tiên của RIM, và chỉ chưa đầy một năm sau, tôi đã là một đối tác”. Đó là những ngày tháng hạnh phúc của họ, họ đạp xe đi làm và ở lại muộn trong văn phòng để hoàn thành các hợp đồng. Họ sớm có đội ngũ 3 trợ lý và thư ký, và phải chuyển đến một văn phòng khác rộng hơn. Những ngày đầu tiên của hãng Research In Motion, cha đẻ của những chiếc điện thoại thông minh BlackBerry nổi tiếng ngày nay đã diễn ra như thế.
BlackBerry – công trình của cả thập kỷ
Người bạn thuở ấu thơ của Mike là Doug Fregin giờ làm giám đốc điều hành của RIM, còn Mike là đồng CEO với Jim Balsillie. “Công việc của tôi là kiếm tiền, còn công việc của Mike là tiêu số tiền tôi kiếm được”, Jim Blasillie từng nói.
BlackBerry thực sự là thành công đỉnh cao của hơn 10 năm đầu tư, nghiên cứu và cố công cho ra đời một sản phẩm biết kiểm tra email từ xa của RIM. Thiết bị BlackBerry đầu tiên, chiếc 850, được giới thiệu năm 1999, là một chiếc máy nhắn tin. Thời gian BlackBerry ra đời thực sự rất hợp thời. Balsillie cho rằng nếu BlackBerry ra đời sớm hơn vài năm, nó có thể chẳng được mấy người để ý, bởi lúc đó email vẫn chưa phát triển. Những chiếc BlackBerry đầu tiên được đánh giá chạy rất nhanh, mặc dù chúng chỉ vận hành tương đương 28,8 kilobyte/giây. RIM cũng phát triển kỹ thuật giúp BlackBerry chạy đến 3 tuần hoặc hơn trên một viên pin AA.
Bạn cần hiểu rằng, BlackBerry không dễ dàng đến với chúng tôi, không phải chỉ ngày một ngày hai là có ngay BlackBerry, mà phải đến cả thập kỷ. Không phải sau một đêm, chúng tôi thức dậy và kêu lên “Eureka”“, Mike Lazaridis nói.
Theo hãng nghiên cứu Gartner, trong quý III/2010, BlackBerry chiếm 14,8% thị phần điện thoại thông minh của thế giới, và RIM là nhà sản xuất smartphone thứ 5, sau Nokia, Samsung, LG và Apple. Dịch vụ BlackBerry Internet Servie đã có ở 91 quốc gia trên thế giới. Tuy vậy, hiện nay hệ điều hành BlackBerry của RIM đang phải nỗ lực cạnh tranh với những “kẻ đến sau” như iOS iPhone của Apple và Android của Google.
Theo ICTnews

Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2011

Miro Video Converter: Chuyển đổi định dạng video WebM (vp8)

Đa phương tiện) Đón đầu công nghệ mới, Miro Video Converter nay đã hỗ trợ WebM (vp8) - định dạng video mới dành cho web.

Bạn tải miễn phí phiên bản Miro Video Converter 2.0 từ địa chỉ http://www.mirovideoconverter.com (dung lượng 12,3 MB, tương thích mọi Windows).
Trên giao diện chính của chương trình, bạn nhấn liên kết Choose a file và tìm chọn file video cần chuyển đổi; hoặc chỉ việc kéo thả file video vào giao diện chính. Tiếp đến, bạn chọn định dạng WebM (vp8) từ danh mục bên dưới và nhấn Convert!

 Lưu ý: Khi chuyển đổi xong, file video xuất ra sẽ nằm cùng thư mục với file gốc và có phần mở rộng là .webm.
Theo thử nghiệm, sau khi dùng Miro Video Conveter chuyển một file video WMV có dung lượng 15.6 MB sang định dạng WebM, file xuất ra chỉ còn 2.01 MB, giảm hơn 87% so với dung lượng ban đầu!

 Để kiểm tra chất lượng video sau khi chuyển đổi, người viết đã thử tạo một file HTML (đặt cùng thư mục chứa video) với đoạn mã dùng để điều khiển video như dưới:

(abc.webm là tên đầy đủ của file video sau khi chuyển đổi định dạng)

Sau đó mở file HTML bằng trình duyệt Opera 10.54 (tải miễn phí tại địa chỉ http://snapshot.opera.com/webm/Opera_1054_21868_in-WebM.exe, dung lượng 11,7 MB). Kết quả cho thấy: kích thước khung hình không đổi so với ban đầu, còn chất lượng hình ảnh thì tương đương với video gốc. Thật đáng kinh ngạc!

WebM là định dạng video mới “toanh”, hoàn toàn miễn phí và mở về mặt công nghệ, được tối ưu cho việc trình chiếu trên web và những thiết bị sử dụng nguồn năng lượng thấp như laptop, máy tính bảng, các thiết bị giải trí cầm tay khác.
VP8 là bộ video codec do On2 Technologies phát minh, công ty mà Google đã mua lại. Giờ đây, bộ codec này được Google “cống hiến” cho tất cả mọi người. Thế mạnh của VP8 là cung cấp chất lượng video tương đối cao trong môi trường đường truyền Internet.
WebM bao gồm:
- VP8, một bộ video codec theo đặc trưng BSD, miễn phí về bản quyền.
- Vorbis, một bộ audio codec mở có sẵn trên thị trường.
- Một định dạng bộ chứa (container) dựa trên các tập con của bộ chứa Matroska.

Nguyễn Đình Phước

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2011

Game : Angry Bird

angry-birds-game-logo
2341
Angry Birds là 1 game giải trí rất hay, cốt truyện của game là hành trình đi tìm lại những quả trứng đã bị bọn ếch ăn cắp mất của những chú chim. Mỗi 1 level, bọn ếch ẩn nấp trong những thanh gỗ, đá, băng theo mỗi kiểu khác nhau & nhiệm vụ của bạn là tìm cách tiêu diệt những chú ếch ẩn nấp trong đó với số lượng chim có hạn.
Mỗi 1 chú chim lại có 1 công dụng, đặc tính khác nhau, điều đó khiến càng chơi bạn càng phải suy nghĩ nhiều hơn để tìm ra cách tối ưu nhất để hoàn thành level. Đó chính là điểm thú vị của trò chơi này, bạn sẽ cảm thấy thật thoải mái sau mỗi màn chơi để rồi tiếp tục tận hưởng màn chơi kế tiếp.
Cách chơi cực kỳ dễ, chỉ có 2 nút trên chuột thôi nên rất dễ dàng tiếp cận, chúc các bạn có những giây phút thư giản thật thoải mái & vui vẻ với Angry Birds, nhưng mà nhớ chơi thua cũng đừng có angry nhé !
  • File : Angry Bird (PC).rar
  • Size : 34.6 MB
  • Download : mediafire.com
Thanks & Best Regard !

Coder hoàn hảo

Những kỹ năng chuyên gia lập trình cần có
Trong lĩnh vực công nghệ, những người viết chương trình (coder hay lập trình viên – LTV) đã tiến một bước dài từ hình mẫu “chuyên gia” với cây viết giắt túi. Chương trình do LTV tạo ra không chỉ làm thay đổi bộ mặt công nghệ mà còn làm thay đổi cách chúng ta liên lạc, điều hành kinh doanh, truy cập thông tin, kiểm soát sức khoẻ và nhiều thứ khác. Nói chung, nếu không có kỹ năng của các LTV, sẽ không có ngành công nghiệp phần mềm, có lẽ chúng ta vẫn còn dùng máy đánh chữ và mất hàng tuần để gửi thư thay vì chỉ mất vài giây như hiện nay.
Để kiếm sống và thăng tiến trong nghề viết code, LTV cần phải thành thạo ít nhất một hay nhiều ngôn ngữ lập trình thời thượng. Và còn phải biết các kỹ thuật lập trình, mô hình phát triển phần mềm và nhiều kỹ năng khác.

Ngôn ngữ lập trình
Tối thiểu, LTV cần tinh thông một trong những ngôn ngữ lập trình đang thịnh hành. Theo chỉ số TIOBE tháng 12/2010, 5 ngôn ngữ lập trình phổ biến nhất hiện nay là Java, C/C++, PHP, C# và Python. Sự phổ biến của ngôn ngữ không phải bất biến. Do vậy, các công ty thích tuyển LTV không chỉ thành thạo một ngôn ngữ mà còn biết thêm nhiều ngôn ngữ khác như Python, JavaScripts, Ruby on Rails, C#... Bạn có thể truy cập website TIOBE (www.tiobe.com) hay đơn giản tìm trên Google để biết những ngôn ngữ lập trình đang được ưa chuộng. 
LTV được kỳ vọng có thể làm được mọi thứ như thiết kế, viết code, kiểm tra và bảo trì hệ thống từ đơn giản đến phức tạp với ngôn ngữ mà mình thành thạo.
Khả năng sử dụng các ngôn ngữ kịch bản là “giá trị gia tăng” đối với LTV, và là yêu cầu “phải có” đối với một số vị trí công việc. Nói chung, các ngôn ngữ kịch bản (script) dễ học và dễ dùng, không phức tạp như các ngôn ngữ lập trình cần biên dịch. Các ngôn ngữ kịch bản hiện rất phổ biến vì chúng cho phép trình duyệt web “nói chuyện” và tương tác với người dùng và với chương trình ở máy chủ.
LTV nên biết một số ngôn ngữ kịch bản như JavaScript, Perl, WSH, TCL… LTV làm việc với máy ảo Java (JVM) cũng nên xem xét phát triển kỹ năng sử dụng các ngôn ngữ kịch bản như Groovy, JRuby, Jython, Scala hay Fantom. 
Các ngôn ngữ kịch bản có thể dùng để lập trình tự động hoá các công việc như xử lý file, xử lý chuỗi hay chuyển đổi định dạng dữ liệu.
10 ngôn ngữ lập trình cho năm 2011
Tạp chí eWEEK đã thực hiện thăm dò rất nhiều LTV, nhà tuyển dụng, các công ty công nghệ mới khởi nghiệp
và những người sáng lập một số ngôn ngữ lập trình phổ biến, dưới đây là kết quả - 10 ngôn ngữ lập trình được dự báo sẽ “hot” trong năm 2011:
1. Java
2. C#
3. C/C++
4. JavaScript (cùng với CSS
và HTML)
5. Visual Basic
6. PHP
7. Objective-C
8. Perl
9. Python
10. Ruby
Danh sách này có chút khác biệt (về thứ tự) so với danh sách những ngôn ngữ lập trình “hot” của TIOBE.
Tuy nhiên, việc chọn ngôn ngữ nào để “kiếm sống” tùy thuộc bạn và lĩnh vực ứng dụng mà bạn đang (hay muốn) làm việc.
 Kỹ thuật lập trình
Cùng với ngôn ngữ lập trình, LTV còn phải am tường những kỹ thuật lập trình như hướng đối tượng (object-oriented), khách/chủ (client/server), phân tán, triển khai, thử nghiệm, bẫy lỗi và bảo trì. Các kỹ thuật này có liên quan đến phương pháp phát triển phần mềm (thường liên quan đến môi trường hay công cụ phát triển) sẽ được đề cập trong phần dưới đây.
Mô hình phát triển phần mềm
Dù một mình phát triển ứng dụng, hay là thành viên của nhóm phát triển cả trăm người, thì việc hiểu biết những mô hình phát triển phần mềm đều cần thiết, giúp cho công việc dễ dàng hơn.

LTV cần có kiến thức về các việc như: kiểm soát phiên bản, thư viện, hệ thống quản lý mã, tài liệu, phương pháp và công cụ kiểm thử, quản lý bản phát hành...
Hiện nay nhiều công ty áp dụng những mô hình đặc biệt để quản lý quy trình phát triển phần mềm, LTV nên nắm rõ mô hình này và vị trí của mình trong quy trình.
Một số mô hình thông dụng đã được giới thiệu khá nhiều trên TGVT như Agile, Lean, Scrum, Spirall và Waterfall (bạn dễ dàng tìm thấy trên website pcworld.com.vn bằng các từ khoá này).
Ứng dụng web
Giờ là thời của web. LTV không thể không biết web. Ứng dụng web hiện diện khắp nơi và làm được gần như mọi thứ. Để làm được điều đó, LTV phải hiểu những phương thức đằng sau các trang web và ứng dụng web, đó có thể là một hay nhiều trang JSP (Java Server Page), Java servlet, ASP (Active Server Page) và ActiveX control. Tùy yêu cầu công việc, LTV cũng cần có kiến thức về Cascading Style Sheets (CSS), HTML và XHTML.
Kỹ năng cá nhân
LTV không phải ngôi sao “cô đơn” mà thường phải làm việc với một nhóm hay làm việc trong một dự án gồm nhiều khâu. Vì vậy LTV cần có những kỹ năng sau:
- Kỹ năng giao tiếp tốt: ở đây muốn nói đến kỹ năng giao tiếp giữa người với người chứ không phải với máy tính, bao gồm cả nói và viết.
- Khả năng giải quyết vấn đề: trong lĩnh vực phát triển phần mềm, nếu có vấn đề ở khâu nào đó, thì chắc chắn các khâu còn lại sẽ bị ảnh hưởng. Một LTV “có nghề” phải là người có khả năng ứng biến tìm ra giải pháp để giải quyết vấn đề hay sáng tạo những cách thức mới để thực hiện những công việc mới hay thậm chí là công việc... cũ.
- Tính tự giác: Tuy LTV có thể làm việc trong một nhóm, nhưng viết code là công việc “tự thân”, yêu cầu tính tự giác. Nghề phát triển phần mềm đầy những “deadline” (mốc thời gian buộc phải hoàn thành) và những thay đổi giờ chót vì vậy “không thiếu” những ngày làm việc vất vả thâu đêm.
Lời kết
Trung thành là tính từ tốt. Tuy nhiên trong lĩnh vực phát triển phần mềm, trung thành với một ngôn ngữ lập trình hay một phương pháp phát triển có thể cản trở con đường nghề nghiệp của LTV. LTV “có nghề” cần “trung thành” với khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu của thị trường, do vậy cần nắm bắt những xu hướng mới, những ngôn ngữ mới hay mới nổi.

Thứ Tư, 16 tháng 3, 2011

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2011

Visual Studio 2010 SP1 tăng cường hỗ trợ các nhà phát triển

Microsoft ra mắt trình trợ giúp tại chỗ (local help viewer) cho Visual Studio 2010, tích hợp Project Server với Team Foundation Server giúp các nhóm phát triển làm việc hiệu quả hơn.

Microsoft đã tung ra phiên bản cuối cùng của môi trường phát triển tích hợp (IDE) Visual Studio 2010 (VS2010) Service Pack 1 (SP1), cung cấp các khả năng như trợ giúp tốt hơn, IntelliTrace cho hệ thống 64-bit và SharePoint.
Trình trợ giúp tại chỗ mới là ứng dụng máy khách (client) cho phép các nhà phát triển điều hướng mục lục theo dạng hình cây mở rộng hoàn toàn, tìm kiếm các chủ đề thông qua từ khóa, và sử dụng các phím tắt để truy cập vào nhiều tính năng.
Với IntelliTrace, việc sửa lỗi được tăng cường bằng cách cho phép các nhà phát triển xem các trường hợp xảy ra trong quá khứ thay vì phải suy luận ra chúng hoặc khởi động lại ứng dụng để tái tạo những trường hợp này.
Ngoài ra, VS2010 SP1 có các công cụ Silverlight 4; đơn vị hỗ trợ thử nghiệm cho Net 3.5, phó chủ tịch Microsoft phụ trách nhóm Visual Studio là Jason Zander cho biết trong một bài viết trên blog hôm thứ Ba. "Chúng tôi tập trung chủ yếu vào sửa chữa những vấn đề các bạn đã thông báo", ông Zander nói.
Các thuê bao MSDN có thể truy cập vào VS2010 SP1 trên web. Việc phát hành rộng rãi diễn ra vào thứ Năm 10/3/2011. Microsoft cũng công bố đã có thể sử dụng Team Foundation Server Project Server Integration Feature Pack, tích hợp với Project Server cho việc quản lý dự án, và máy chủ quản lý vòng đời ứng dụng Team Foundation Server (TSF).
Theo PCWorld VN

Bài đăng phổ biến