Thứ Ba, 17 tháng 11, 2009

Tình yêu kỹ thuật số (st)

Giới blogger đồn nhau rằng có một chàng hoàng tử rất đẹp trai nhưng lại bị mụ phù thủy gian ác phù phép.

Mỗi năm chàng chỉ được nói một từ duy nhất. Thương thay, chàng lại yêu nàng công chúa "hàng xóm" xinh đẹp. Để tỏ tình, chàng quyết định không nói gì trong 3 năm để có thể bày tỏ 3 từ "Anh yêu em".

Ba năm trôi qua... Chàng ngẫm thấy nếu nói mỗi thế thì chẳng có tác dụng gì. Chàng tiếp tục đợi thêm 5 năm nữa để nói "Em làm vợ anh nhé".


Sau 5 năm đằng đẵng, chàng tới gặp công chúa. Nàng vẫn xinh đẹp như xưa và đang lẩm nhẩm hát rất yêu đời. Hoàng tử quỳ xuống, nhìn vào mắt công chúa và nói: "Anh yêu em, em làm vợ anh nhé?".

Những tưởng lời nguyền được hóa giải, nhưng không... Công chúa vô cùng ngạc nhiên, tháo tai nghe của chiếc MP3 đời mới và hỏi lại:

- Anh vừa nói cái gì cơ?

Chớ trêu thay... Nhưng thật may, hoàng tử cũng rút chiếc điện thoại di động sành điệu ra và trao cho công chúa. Chàng đã ghi âm 8 từ quý giá của mình. Và thế là, hoàng tử và công chúa lấy nhau đúng như trong cổ tích nhờ có công nghệ kỹ thuật số.

Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2009

Thứ sáu ngày 13 dưới góc nhìn toán học và văn hóa

TTO - Ở một số nước phương Tây, người ta cho rằng thứ sáu ngày 13 là ngày rủi ro. Tuy nhiên, báo Le Figaro (Pháp) số ra ngày 11-3-2009 cho biết số người mua lô tô tại Pháp vào thứ sáu ngày 13 cao gấp 3 lần so với những ngày khác.
Vậy thứ sáu ngày 13 có đặc điểm gì về mặt toán học và văn hóa? Nó là ngày tốt hay xấu?


Kiệt tác Bữa tiệc cuối cùng của Léonardo da Vinci
Bằng lý thuyết đồng dư, toán học chứng minh được một năm bất kỳ có ít nhất một thứ sáu ngày 13 và nhiều nhất ba thứ sáu ngày 13. Hơn nữa, một năm có ba thứ sáu ngày 13 khi và chỉ khi ngày đầu năm là thứ năm (đối với năm không nhuận) hoặc chủ nhật (đối với năm nhuận). Đó là trường hợp của năm 2009: có ba thứ sáu ngày 13 rơi vào tháng hai, tháng ba và tháng mười một. Sự kiện này đã xảy ra vào năm 1998 và sẽ lặp lại vào các năm 2015, 2026.
Những năm sắp đến, 2010 và 2011 chỉ có một thứ sáu ngày 13 mỗi năm. Năm 2012 có ba thứ sáu ngày 13 rơi vào tháng giêng, tháng tư và tháng bảy. Bộ ba “giêng, tư, bảy” này ít gặp hơn so với bộ ba “hai, ba, mười một”. Năm 2013 có hai thứ sáu ngày 13 rơi vào tháng 9 và tháng 12. Tổng cộng có 21 thứ sáu ngày 13 từ 2009 - 2019.
Cũng bằng toán học, ta tính được khoảng cách giữa hai ngày thứ sáu 13 gần nhất chỉ có thể là 27, 90, 181, 244, 272, 335 hoặc 426 ngày. Như vậy, hai thứ sáu ngày 13 gần nhất có thể cách nhau hơn một năm. Đó chính là trường hợp 13-8-1999 và 13-10-2000.
Theo Kinh Thánh, Chúa Jésus bị đóng đinh trên thập tự giá vào thứ sáu. Hơn nữa, bữa ăn cuối cùng của Chúa với các môn đồ có đúng 13 người. Việc này thường được xem là nguồn gốc việc kiêng sợ thứ sáu ngày 13.
Ở Ý, số 17 được gắn với sự rủi ro chứ không phải số 13. Còn ở Trung Quốc, con số này là 4 vì được phát âm gần giống với “tử” nghĩa là chết. Ở châu Mỹ Latin, ngày kiêng cữ lại là thứ ba 13.
Về mặt thống kê, hiện chưa có dữ liệu đáng tin cậy nào để gán cho thứ sáu ngày 13 với “may mắn” hay “rủi ro” theo một nghĩa nào đó. Chẳng hạn, xác suất trúng lô tô ở Pháp vào thứ sáu ngày 13 cũng giống với những ngày khác và xấp xỉ với 1/14.000.000. Xác suất nhỏ bé này không có nghĩa là bạn không thể trúng lô tô và không hề ngăn cản người chơi lô tô nuôi hi vọng!
CÔNG KHANH

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2009

Sách C# Tiếng Việt

Mời các Bạn download các ebook C# tiếng Việt sau về từ từ nghiên cứu:
1.Các giải pháp lập trình C#
2.Kỹ thuật lập trình C#
3.Ngôn ngữ lập trình C#
4.Lập trình Window với C#
5.Giáo trình C# của ĐH KHTN
6.So sánh C# và VB.Net
7.C# Fast Food

Link Download:

http://www.mediafire.com/?share...d44918aa86de61a2a3bb8123



Hoặc: 

http://www.mediafire.com/download.php?j3zlqajzzjt

http://www.mediafire.com/download.php?mnn0y3ngz0m

http://www.mediafire.com/download.php?2mydwb1wduh

http://www.mediafire.com/download.php?myzqmdmk4yt

http://www.mediafire.com/download.php?gmmytajodmy

http://www.mediafire.com/download.php?mjtm5y0mxza

http://www.mediafire.com/download.php?yyzjymuzr5m

Một số phương pháp Debug

Trong Visual C++ 6

Một desktop application thông thường

Breakpoint thông thường
Chuyển con trỏ tới dòng cần ngừng chương trình, và ấn F9

Advandce break point
Vào menu Edit => chọn mục Breakpoints
Hoặc ấn Alt-F9

Chi tiết trong advandce break point:
- Tab location: set break point tại một dòng code, click condition nếu muốn đặt điểu kiện cho break đó, ví dụ: i==10 (breakpoint trong vòng lặp, ngừng khi giá trị biến đếm i bằng 10)
- Tab data: đặt break point khi dữ liệu thay đổi tại vị trí cụ thể trong bộ nhớ, ví dụ: *(long*)0x123 (break point khi 4 byte tại vị trí 0x123 bị thay đổi giá trị.
- Tab messages: đặt break point khi có window message tới cửa sổ của ta(chọn winproc, và message).

Debug file .dll và file .cgi

Bạn đã bao giờ lập trình web cgi bằng C++, nếu có thì hẳn bạn sẽ biết là debug nó khó khăn như thế nào, đây là thủ thuật, hầu như là giống hệt như debug một file dll, tuy nhiên có 1 chút xíu khác (đôi khi).

Cách 1:
Giả sử cgi hoặc dll bạn cần đặt tại vị trí: C:\\location1\\a.dll
- Vào menu Project => setting => chọn tab debug => chỉnh mục executable to debug session: C:\\location1\\a.dll => chọn tab link => chọn category: general => chỉnh mục output file name: C:\\location1\\a.dll
- Đặt 1 break point bất kì (bằng cách ấn F9).
- Bạn nhớ là đang build mode debug không phải release.
- Bây giờ thì kích hoạt cho dll hoặc cgi đó lên ( chạy file exe - file exe có sử dụng dll đó, hoặc là gõ localhost vao trình duyệt Web IE,.. chỉ có bạn là biết chính xác cách kích hoạt nó như thế nào, túm lại là kích hoạt nó lên)
- 1 breakpoint se bật ra trong VC, lúc đó bạn đã điều khiển được luồng chạy của chương trình.

Cách 2:
- Chèn trong code tại chỗ nào bạn muốn ngừng 1 dòng lệnh sau
Mã: Chọn tất cả
__asm int 3; Hoặc MessageBox(...);

- Load dll, bằng cách kích hoạt chương trình chính như nêu ở cách 1
- Chờ đến khi nó bật ra 1 cái MessageBox, chưa vội ấn OK, đặt một cái breakpoint vào vị trị dưới dòng lệnh MessageBox hoặc __asm int 3, bây giờ mới click OK cái MessageBox đó.
- Bây giờ bạn đã điều khiển được luồng chạy của chương trình.

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2009

Kết nối cơ sở dữ liệu_trong C#

Bạn cần mở một kết nối đến một cơ sở dữ liệu.

@       Tạo một đối tượng kết nối phù hợp với kiểu cơ sở dữ liệu mà bạn cần kết nối; tất cả các đối tượng kết nối đều hiện thực giao diện System.Data.IDbConnection. Cấu hình đối tượng kết nối bằng cách thiết lập thuộc tính ConnectionString của nó. Mở kết nối bằng cách gọi phương thức Open của đối tượng kết nối.
Bước đầu tiên trong việc truy xuất cơ sở dữ liệu là mở một một kết nối đến cơ sở dữ liệu. Giao diện IDbConnection mô tả một kết nối cơ sở dữ liệu, và mỗi data-provider chứa một hiện thực duy nhất. Dưới đây là danh sách các hiện thực IDbConnection cho năm data-provider chuẩn:
·         System.Data.Odbc.OdbcConnection 
·         System.Data.OleDb.OleDbConnection 
·         System.Data.OracleClient.OracleConnection 
·         System.Data.SqlServerCe.SqlCeConnection
·         System.Data.SqlClient.SqlConnection 

Bạn cấu hình một đối tượng kết nối bằng một chuỗi kết nối. Chuỗi kết nối là một tập các cặp giá trị tên được phân cách bằng dấu chấm phẩy. Bạn có thể cung cấp một chuỗi kết nối làm đối số trong phương thức khởi dựng hoặc bằng cách thiết lập thuộc tính ConnectionString của đối tượng kết nối trước khi mở kết nối. Mỗi hiện thực lớp kết nối yêu cầu bạn cung cấp những thông tin khác nhau trong chuỗi kết nối. Bạn hãy tham khảo tài liệu về thuộc tính ConnectionString đối với mỗi hiện thực để biết được những giá trị mà bạn có thể chỉ định. Dưới đây là một số thiết lập:
·         Tên server cơ sở dữ liệu đích
·         Tên cơ sở dữ liệu cần mở vào lúc đầu
·         Giá trị timeout của kết nối
·         Cơ chế connection-pooling (xem mục 10.2)
·         Cơ chế xác thực dùng khi kết nối đến các cơ sở dữ liệu được bảo mật, bao gồm việc cung cấp username và password
Một khi đã được cấu hình, gọi phương thức Open của đối tượng kết nối để mở kết nối đến cơ sở dữ liệu. Kế đó, bạn có thể sử dụng đối tượng kết nối để thực thi những câu lệnh dựa vào data-source (sẽ được thảo luận trong mục 10.3). Các thuộc tính của đối tượng kết nối cũng cho phép bạn lấy thông tin về trạng thái của một kết nối và những thiết lập được sử dụng để mở kết nối. Khi đã hoàn tất một kết nối, bạn nên gọi phương thức Close để giải phóng các tài nguyên hệ thống và kết nối cơ sở dữ liệu nằm dưới. IDbConnection được thừa kế từ System.IDisposable, nghĩa là mỗi lớp kết nối sẽ hiện thực phương thức Dispose. Phương thức này sẽ tự động gọi Close, cho nên lệnh using là một cách rất rõ ràng và hiệu quả khi sử dụng đối tượng kết nối trong mã lệnh.
Để đạt được hiệu năng tối ưu trong việc truy cập dữ liệu thì phải mở kết nối cơ sở dữ liệu càng chậm càng tốt, và khi đã hoàn tất thì ngắt kết nối càng sớm càng tốt. Việc này bảo đảm rằng, bạn không truy xuất tới kết nối cơ sở dữ liệu trong một thời gian dài và mã lệnh có cơ hội cao nhất để giữ lấy kết nối. Điều này đặc biệt quan trọng nếu bạn đang sử dụng connection-pooling.
Đoạn mã dưới đây trình bày cách sử dụng lớp SqlConnection để mở một kết nối đến SQL Server đang chạy trên máy cục bộ có sử dụng Integrated Windows Security (bảo mật tích hợp với Windows). Để truy xuất đến một máy từ xa, chỉ cần thay đổi data-source từ localhost thành tên của đối tượng cơ sở dữ liệu.

// Tạo đối tượng SqlConnection rỗng.

using (SqlConnection con = new SqlConnection()) 
{
    // Cấu hình chuỗi kết nối của đối tượng SqlConnection.
    con.ConnectionString = 
        "Data Source = localhost;"+ // Đối tượng SQL Server cục bộ
        "Database = Northwind;" +   // Cơ sở dữ liệu mẫu Northwind
        "Integrated Security=SSPI"; // Integrated Windows Security
    // Mở kết nối cơ sở dữ liệu.
    con.Open();
    // Hiển thị thông tin về kết nối.
    if (con.State == ConnectionState.Open) 
{
        Console.WriteLine("SqlConnection Information:");
        Console.WriteLine("  Connection State = " + con.State);
        Console.WriteLine("  Connection String = " + con.ConnectionString);
        Console.WriteLine("  Database Source = " + con.DataSource);
        Console.WriteLine("  Database = " + con.Database);
        Console.WriteLine("  Server Version = " + con.ServerVersion);
        Console.WriteLine("  Workstation Id = " + con.WorkstationId);
        Console.WriteLine("  Timeout = " + con.ConnectionTimeout);
        Console.WriteLine("  Packet Size = " + con.PacketSize);
    } else {
        Console.WriteLine("SqlConnection failed to open.");
        Console.WriteLine("  Connection State = " + con.State);
    }
    // Cuối khối using, Dispose sẽ gọi Close.
}



Đoạn mã dưới đây trình bày một chuỗi kết nối dùng để mở một kết nối đến cơ sở dữ liệu ở trên (nếu bạn đang sử dụng OLE DB Data Provider để thực hiện kết nối):

// Tạo một đối tượng OleDbConnection rỗng.
using (OleDbConnection con = new OleDbConnection()) 
{
    // Cấu hình chuỗi kết nối của đối tượng OleDbConnection.
    con.ConnectionString = 
        "Provider = SQLOLEDB;" +         // OLE DB Provider for SQL Server
        "Data Source = localhost;" +     // Đối tượng SQL Server cục bộ
        "Initial Catalog = Northwind;" + // Cơ sở dữ liệu mẫu Northwind
        "Integrated Security=SSPI";      // Integrated Windows Security
    // Mở kết nối cơ sở dữ liệu.
    con.Open();

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2009

Phần mềm hỗ trợ vẽ bản đồ tư duy trên máy tính

Với cách take note trên giấy hay trong sổ sách thông thường, tuần tự từ trên xuống dưới, có thể thấy sự khó khăn khi muốn biết được các ý chính, biết được mối quan hệ phân cấp giữa các ý. Giống như bạn đọc email trong các mail group, nếu các email ko được phân cấp theo từng thread, mà cứ để tuần tự, sẽ thấy việc theo dõi khó khăn đến mức nào.

Cách tổ chức hiệu quả nhất có lẽ là theo cây phân cấp (hierarchical). Mind map là một dạng như thế, Mind mapping dùng phần mềm có nhiều tiện lợi hơn so với dùng tay:
  1. Các ý có thể được collapse hay expand. Nếu bạn muốn nhìn tổng thể, chọn collapse để thu gọn các mục con lại. Nếu muốn nhìn chi tiết, chọn expand để xem toàn bộ các mục. Trên giấy ko thể làm được chuyện này.
  2. Các mục có thể kết nối với nhau dễ dàng. Bạn có thể vẽ một mũi tên từ mục A đến mục Z. Nếu biểu đồ quá rộng, bạn có thể dùng chức năng Zoom để thấy cả A lẫn Z khi vẽ mũi tên. Trên giấy thì chịu, sẽ ko có chút dễ chịu nào khi bạn muốn liên kết một ý từ trang 1 đến trang 20.
  3. Bạn có thể chọn ẩn/hiện một vài yếu tố riêng biệt trong map
  4. Bạn có thể dễ dàng chỉnh sửa mà ko làm các note của mình trông rối rắm như làm trên giấy thông thường.

Tiêu chí chọn phần mềm Mind Mapping là:
  • Phần mềm phải chạy được trên 2 nền tảng quen thuộc là Windows và Linux (và có lẽ cả Mac nữa).
  • Mind Mapping quan trọng nhất ở màu sắc nên nếu phần mềm hỗ trợ màu sắc tốt thì kết quả sẽ có lợi hơn nhiều.
  • Có chức năng tổ chức project.
  • Tương thích tốt với các ứng dụng và định dạng office.
  • Có nhiều template.

Theo đó xin giới thiệu một vài ứng dụng desktop và trực tuyến thông dụng nhất:

Tony Buzan 's imind map: Đây là chương trình tạo bản đồ tư duy do chính tác giả của Bản Đồ Tư Duy-ông Tony Buzan tạo ra. Bản này đúng và gần những gì Tony Buzan viết trong sách, làm việc rất tự do sáng tạo



MindManager: được sử dụng phổ biến hơn cả. Phiên bản mới nhất là Mindjet Mindmanager Pro 8




Chút so sánh iMindmap và MindManager Pro


Ưu điểm của iMindmap: Có chế độ cho vẽ hình trực tiếp trong phần mềm, đặc biệt là có thể uốn các đường nối để làm mindmap sinh động theo ý người dùng -> điểm cộng về tính tự do.

Nhược điểm của iMindmap:
+ Quản lý bộ nhớ không tốt, tốn nhiều bộ nhớ: lúc không hoạt động dừng ở khoảng 30MB, lúc dùng đến thì tăng lên hơn 100MB, làm chậm tốc độ sử dụng. (MM Pro duy trì thường xuyên ở mức khoảng 50-60MB)
+ Chế độ phím tắt để thêm / sửa chữa các topic kém, làm cho người dùng tốn nhiều thao tác hơn khi muốn tạo / sửa một topic. Ví dụ:
- Muốn tạo subtopic (branch), với iM cần bấm Ctrl-I, rồi click vào branch mới ghi được chữ (2 thao tác), trong khi MM chỉ cần bấm Insert và gõ luôn chữ cho subtopic.
- Muốn tạo mới một topic cùng cấp, với iM cần quay trở lại topic cấp trên, rồi tạo branch mới của nó, với MM thì khi đang ở một topic có thể nhấn Enter là tạo được topic cùng cấp rồi.
+ iM thiếu các tính năng tự động sắp xếp, với mindmap lớn thì sẽ tốn nhiều công hơn để sắp xếp các nhánh.

Ưu điểm của MindManager: tương thích tốt với bộ office, giao diện ribbon cung cấp nhiều tính năng, trình bày có quy củ hơn.

Nhận xét: iMindmap được thiết kế theo kiểu dùng máy tính để tạo ra bản mindmap bắt chước mindmap vẽ bằng tay, còn MindManager được thiết kế theo kiểu dùng máy tính để tăng tính tự động và tốc độ tạo ra mindmap. Tùy người dùng thích phong cách nào mà lựa chọn. Về tính năng, MindManager có nhiều tính năng hơn và được viết công phu hơn iMindmap, dù vậy cả hai chương trình này đều đáp ứng tốt nhu cầu tạo mindmap bằng phần mềm.

ConceptDraw Mindmap 8 là trợ lý trong việc thảo luận, quyết định và lên kế hoạch, có khả năng giúp bạn trình bày thông tin cách đơn giản, trực quan bằng cách xây dựng theo dạng thư mục, hình ảnh cho các ý tưởng. Bạn có thể sử dụng ConceptDraw Mindmap để thiết kế sắp xếp các dòng sang kiến, ghi chú, kế hoạch công việc hoặc thuyết trình.


http://www.mediafire.com/?k1ljtjwyxwi
http://www.mediafire.com/?hywmiiu5omb

http://rapidshare.com/files/27580257...part1.rar.html
http://rapidshare.com/files/27580252...part2.rar.html

http://www.megaupload.com/?d=Q4H47UJA
http://www.megaupload.com/?d=37R5SRUG
Code - SELECT ALL
Serial:
CDOF-1E1B-B0EA-5969-58F1-43
CDOF-0B3D-7DC3-16E6-19CB-41
CDOF-0C6A-03CC-6D57-CCF4-32
CDOF-1FAD-F6EA-EA04-49E8-93
CDOF-0182-574F-2992-CD5C-85


Keygen:





Các phần mềm miễn phí (freeware)


VUE(Visual Understanding Environment) là dự án nguồn mở miễn phí của Đại học Tufts(Hoa Kỳ). Dự án này hướng tới việc tạo ra một công cụ tiện ích, linh hoạt cho quản lý và tích hợp các nguồn tài nguyên số, phục vụ trong lĩnh vực giảng dạy, học tập và nghiên cứu. VUE cung cấp cho người sử dụng môi trường làm việc đồ họa sinh động, linh hoạt để xây dựng, trình bày và chia sẻ các thông tin số hóa.

Nếu bạn làm việc trong lĩnh vực giảng dạy, học tập hay nghiên cứu thì chớ nên bỏ qua phần mềm này. VUE được viết bằng ngôn ngữ Java và có thể chạy trên hầu hết các hệ điều hành phổ biến hiện nay.

FreeMind: phần mềm mã nguồn mở được viết trên nền Java. Phần mềm này được đánh giá khá cao và khuyên dùng cho giới sinh viên. FreeMind có các chức năng “đủ dùng” cho việc tạo bản đồ tư duy, và được đánh giá là chạy nhanh và gọn nhẹ. FreeMind hỗ trợ Mac, Linux và Windows.

Một số phần mềm khác: Visual Mind, Axon Idea Processor, Inspiration ...
Danh sách các phần mềm Mind Mapping đầy đủ có thể xem tại đây: http://en.wikipedia.org/wiki/List_of...pping_software



Tạo sơ đồ tư duy trực tuyến và miễn phí

Các phần mềm phục vụ nhu cầu tạo sơ đồ tư duy có bất lợi ở chỗ phải cài đặt chương trình và tốn phí bản quyền. Với hai dịch vụ trực tuyến miễn phí dưới đây, bạn có thể tạo sơ đồ tư duy ở bất cứ đâu, chỉ cần có đường truyền Internet.

1.Mindomo.com

Để sử dụng, trình duyệt của bạn phải có Adobe Flash Player (tải tại http://www.adobe.com/go/getflash).

Bạn nhấn vào nút Basic Account - Free để đăng kí một tài khoản miễn phí. Sau khi kích hoạt tài khoản qua email, bạn có thể đăng nhập vào trang điều khiển. Nhấn Lauch Mindomo để bắt đầu tạo sơ đồ tư duy.

Giao diện của Mindomo rất đơn giản, trực quan. Bạn nhấn vào Topic và Subtopic để chèn vào các nhánh ý tưởng. Ngoài ra, bạn còn có thể thực hiện các tác vụ như chèn siêu liên kết, chèn hình ảnh, định dạng,... giống như soạn thảo văn bản thông thường. Sau khi đã ưng ý với "tác phẩm" của mình, bạn nhấn vào nút hình chữ X trên góc trái, chọn Export (định dạng ảnh, RTF, plain text hoặc PDF) để chia sẻ với bạn bè. Ngoài ra, bạn còn có thể lưu vào "kho ý tưởng" của mình trên Mindomo để truy cập bất kì lúc nào.

2.MindMeister.com

Cách đăng kí và sử dụng giống như Mindomo, nhưng MindMeister "nhỉnh" hơn về mặt giao diện và tốc độ. Bạn còn được cung cấp thêm Geistesblitz dùng để "tốc ký” ý tưởng của bạn vào một sơ đồ mặc định trong tài khoản MindMeister. Từ nay bạn không còn sợ ý tưởng của mình vừa mới nghĩ ra đã ... "quên mất tiêu" nữa, nó sẽ được lưu lại ngay lập tức. Geistesblitz có hai dạng:

- Sidebar Gadget: Đây là một gadget (ứng dụng nhỏ) dùng với Mac OS X Dashboard hoặc Windows Vista Sidebar. Tải về tại http://www.mindmeister.com/services/tools/geistesblitz_widgets.

- Quicksearch Extensions: Hoạt động như một công cụ tìm kiếm gắn thêm cho Firefox và IE7.Bạntruy cập vào trang http://www.mindmeister.com/services/...tz_quicksearch, nhấn vào dấu mũi tên ở hộp tìm kiếm và chọn Add MindMeister Geistesblitz, lập tức Geistesblitz sẽ xuất hiện trong danh sách search engine của bạn. Mỗi khi có ý tưởng "bộc phát", bạn hãy gõ vào hộp tìm kiếm (thay vì tìm kiếm, ý tưởng của bạn sẽ được chèn vào sơ đồ mặc định trên tài khoản MindMeister).

Đến đây chắc bạn đã thấy sử dụng sơ đồ tư duy chẳng có gì rắc rối. Bằng cách kết hợp với ứng dụng công nghệ thông tin, nó hỗ trợ rất tốt cho học tập và công việc.

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2009

The Radian

2 radian ~ 360 degree. Đây là điều vô cùng lý thú mình vừa khám phá được. Đây là nguyên văn bài viết:
The word radian describes a certain size of an angle. In the Java animation below the blue pie slice shape demonstrates an angle of one radian. Notice that for an angle of one radian the arc length along the edge of the circle is equal in length to the radius. Read the details below...

Usually, a person first learns how to measure the size of an angle using degrees. There are, of course, 360 degrees all the way around a circle.
The degree, however, turns out to be not a very mathematical way of measuring angles. Perhaps the degree was originally created as approximately the angle which the Earth goes through per day as it orbits the Sun, since there are about 360 days in the year.
The radian is used much more than the degree in higher mathematics for measuring angles.
A radian is defined this way:
  • If you have a circle with an angle whose vertex is at the center of that circle...
  • And if that angle is of such a size that the amount of the circumference of the circle which that angle intercepts has an arc length equal to the length of the radius...
  • Then that angle has a measurement of one radian.
Here's another way to say it:
A central angle to a circle has a size of one radian if it subtends an arc length on the circle equal in length to the radius.
In other words, if you could pick up the radius of a certain circle like it were a plastic rod and bend it around the circumference of that circle, then that bent radius length would touch the sides of a central angle which had a measurement of one radian. Look at the following picture and then go back and look at the animation.


One thing to understand about a radian is that it is bigger than a degree. In fact:
1 radian = 57.2957 degrees
1 degree = 0.0174532 radians
The above values are to six significant figures, truncated, not rounded. If you want to know the exact size of the radian in terms of degrees, take 360 and divide it by 2 times pi. That number is how many degrees there are in a radian.
What is the reasoning behind these values? It works this way:
How many times can you trace an arc length equal to the size of the radius as you move around the circumference of a circle? Well, here's the formula for the circumference of a circle:

C is the circumference, and r is the radius.
Looks like there are two pi radii around the circumference of a circle, or about 2 times 3.14, i.e., about 6.28, radii around the circumference of a circle. Each one of these radius lengths would designate one radian, so there are about 6.28 radians in a full circle. The following diagram shows this:

Therefore, there are 2 pi radians in a full circle.
We also know that there are 360 degrees in a circle.
So, there are 360 degrees per 2 pi radians. Dividing 360 by 2 pi give us the value of about 57.2957 degrees per radian. A radian is equal to 57.2957 degrees.
Also, by dividing 2 pi radians by 360 degrees we get about 0.0174532 radians per degree. A degree is equal to 0.0174532 radians.

In mathematics if you state the size of an angle as a pure number, without the degree 'unit' marker after it, then the angle is taken to be in radians. So, if the angle in question is named A, and if someone were to write down:
A = 4
Then that would mean that angle A has a measurement of 4 radians and not 4 degrees.

Bài đăng phổ biến